Liên doanh Khoáng sản và Luyện kim Việt Trung (VTM) được thành lập vào năm 2007 với kỳ vọng về một chuỗi sản xuất khép kín, tự chủ nguyên liệu từ mỏ sắt Quý Xa – một trong những mỏ quặng sắt lớn nhất Đông Nam Á với trữ lượng hơn 73 triệu tấn. Thế nhưng, trái ngược với kỳ vọng, dự án này đã nhanh chóng trượt dài trong thua lỗ, để rồi trở thành "mảnh đất màu mỡ" cho những hành vi trục lợi, rút ruột tài sản Nhà nước suốt nhiều năm.
Ngày 13/7, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã ban hành kết luận điều tra vụ án xảy ra tại Công ty TNHH Khoáng sản và Luyện kim Việt Trung (VTM) và Tổng Công ty Thép Việt Nam (VNSteel, UPCoM: TVN), đề nghị truy tố 31 bị can.
Liên quan đến VNSteel, ông Mai Văn Tinh - cựu Chủ tịch Hội đồng thành viên; ông Đậu Văn Hùng - nguyên Tổng giám đốc cùng 3 cựu thành viên Hội đồng quản trị là Đặng Thúc Kháng, Nguyên Minh Xuân và Lê Phú Hưng bị đề nghị truy tố về tội Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
Hai cựu lãnh đạo tỉnh Lào Cai là ông Lê Ngọc Hưng - nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh và ông Đỗ Trường Giang - nguyên Giám đốc Sở Công Thương bị cáo buộc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
Theo kết luận điều tra, sau khi được Tổng công ty Thép Việt Nam (VNS) cử làm người đại diện phần vốn và bổ nhiệm Tổng giám đốc Công ty TNHH Khoáng sản và Luyện kim Việt Trung (VTM), ông Bùi Thanh Bình trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó có việc bán quặng sắt mỏ Quý Xa.
Từ năm 2015-2020, ông Bình bị cáo buộc thỏa thuận với nhiều doanh nghiệp bán quặng thấp hơn giá thị trường từ 50.000-70.000 đồng/tấn để nhận tiền ngoài hợp đồng. Sau đó, ông chỉ đạo cấp dưới xây dựng phương án theo mức giá đã thống nhất, trình ban điều hành và hội đồng thành viên phê duyệt. Một số lãnh đạo, cán bộ VTM dù biết giá bán thấp hơn thị trường vẫn ký hồ sơ.
Trong 5 năm, ông Bình ký 30 hợp đồng với 18 doanh nghiệp; trong đó, 25 hợp đồng với 16 doanh nghiệp đã được thực hiện, tương ứng gần 5,8 triệu tấn quặng, tổng giá trị gần 2.951 tỷ đồng. Việc bán quặng dưới giá thị trường bị cáo buộc gây thiệt hại hơn 434,7 tỷ đồng cho tài sản nhà nước.
Đổi lại, ông Bình nhận 53,3 tỷ đồng từ 8 doanh nghiệp, trong đó 43,8 tỷ đồng thuộc giai đoạn đủ căn cứ xử lý về tội nhận hối lộ. Cơ quan điều tra xác định ông Bình dùng khoảng 3,8 tỷ đồng chi cho một số nhân viên, trả lại 1,5 tỷ đồng cho hai doanh nghiệp và sử dụng hơn 48 tỷ đồng vào mục đích cá nhân.
Sai phạm còn được xác định trong hoạt động mua than cốc. Theo cáo buộc, từ năm 2015, ông Bình tạo điều kiện để Công ty Việt Phát và Công ty Trung Thành Thái Nguyên thường xuyên cung cấp than cốc cho VTM, đổi lại khoản tiền từ 40.000-200.000 đồng/tấn.
Để hai doanh nghiệp này được lựa chọn, các cán bộ liên quan bị cáo buộc sử dụng báo giá khống, hợp thức hồ sơ và sắp xếp để hai đơn vị luân phiên trúng thầu. Một số hợp đồng còn được chia nhỏ dưới 10.000 tấn nhằm tránh phải xin ý kiến hội đồng thành viên.
Từ năm 2015-2020, hai doanh nghiệp ký 38 hợp đồng, cung cấp gần 287.000 tấn than cốc cho VTM với tổng giá trị hơn 2.020 tỷ đồng. Qua đó, ông Bình bị cáo buộc nhận thêm 25 tỷ đồng, trong đó 18,4 tỷ đồng thuộc giai đoạn đủ căn cứ xử lý về tội nhận hối lộ.
Ngoài ra, ông Bình cùng Bùi Sỹ Ngọc và Nguyễn Duy Dũng bị xác định buông lỏng quản lý tài sản, hạch toán kế toán không đúng quy định và không thực hiện đầy đủ chức trách, gây thiệt hại thêm 46,29 tỷ đồng.
Tổng cộng, ông Bình bị cáo buộc nhận hối lộ 62,2 tỷ đồng, gồm 43,8 tỷ đồng từ hoạt động bán quặng và 18,4 tỷ đồng liên quan đến mua than cốc. Cơ quan điều tra xác định ông Bình có hành vi phạm 3 tội danh: Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí; Nhận hối lộ và Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
Áp lực tài chính phía sau kết quả kinh doanh phục hồi
Vụ án tại VTM không chỉ để lại hệ lụy pháp lý kéo dài mà còn cho thấy những tồn tại trong quá trình quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, xử lý các dự án đình trệ và thu hồi nguồn lực từ những khoản đầu tư kém hiệu quả tiếp tục là bài toán quan trọng trong quá trình tái cơ cấu VNSteel.
VNSteel hiện là một trong những doanh nghiệp quy mô lớn của ngành thép, với 14 công ty con và 19 đơn vị liên doanh, liên kết, gồm Thép Miền Nam - VNSteel, Gang thép Thái Nguyên, Tôn Phương Nam và Kim khí TP.HCM… Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đang sở hữu 93,93% vốn điều lệ, khiến lượng cổ phiếu TVN tự do lưu hành trên thị trường ở mức thấp.
Năm 2025, toàn hệ thống VNSteel tiêu thụ hơn 4 triệu tấn thép và đạt doanh thu hợp nhất trên 45.000 tỷ đồng. Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý I/2026 với doanh thu thuần hợp nhất hơn 13.658 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ.

Lợi nhuận trước thuế đạt 208 tỷ đồng, tăng 82%; lợi nhuận sau thuế đạt 184 tỷ đồng, tăng 84%. Riêng công ty mẹ báo lãi sau thuế khoảng 163 tỷ đồng. Qua đó, tổng công ty hoàn thành khoảng 29% kế hoạch lợi nhuận trước thuế cả năm.
Tuy nhiên, sự cải thiện về kết quả kinh doanh chưa phản ánh hết áp lực trên bảng cân đối kế toán. Tại ngày 31/3/2026, VNSteel có tổng tài sản khoảng 28.018 tỷ đồng và nợ phải trả 17.505 tỷ đồng. Trong đó, nợ ngắn hạn lên tới 13.943 tỷ đồng, chiếm gần 80% tổng nợ; riêng vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn vượt 8.000 tỷ đồng.
Quy mô nghĩa vụ ngắn hạn lớn buộc doanh nghiệp phải duy trì dòng tiền để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động và thanh toán các khoản đến hạn. Trong quý I/2026, chi phí tài chính toàn hệ thống tăng khoảng 45%, chủ yếu do lãi vay ngân hàng và lãi mua hàng trả chậm, qua đó bào mòn một phần hiệu quả từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Áp lực đòn bẩy cũng hiện hữu tại các đơn vị thành viên, khi hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của Gang thép Thái Nguyên vượt 5,56 lần, còn tại Vinausteel trên 3 lần.

Bên cạnh áp lực nợ vay, VNSteel còn phải xử lý lượng vốn lớn nằm tại Dự án cải tạo và mở rộng sản xuất Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2. Tại ngày 31/3/2026, tổng chi phí xây dựng cơ bản dở dang của tổng công ty đạt hơn 6.625 tỷ đồng, trong đó riêng dự án này chiếm hơn 6.579 tỷ đồng, tương đương trên 99%.
Dự án được khởi công năm 2007 với tổng mức đầu tư ban đầu 3.843,67 tỷ đồng, sau đó điều chỉnh lên 8.104,91 tỷ đồng, nhưng đã tạm dừng thi công từ năm 2013 đến nay. Việc đình trệ kéo dài khiến một lượng vốn lớn chưa thể chuyển hóa thành tài sản phục vụ sản xuất, trong khi chi phí lãi vay tiếp tục phát sinh và được vốn hóa vào giá trị dự án.
Ngoài dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, VNSteel còn phải xử lý các khoản đầu tư kéo dài tại mỏ sắt Thạch Khê và VTM. Mỏ sắt Thạch Khê đến nay chưa thể khai thác thương mại, nên chưa cung cấp nguồn quặng như kỳ vọng cho hệ thống. Trong khi đó, khoản đầu tư tại VTM thua lỗ kéo dài và đã được VNSteel trích lập dự phòng toàn bộ.
Tìm đường rút khỏi liên doanh VTM sau nhiều năm thua lỗ
Trước áp lực dòng tiền ngắn hạn, ngày 24/6/2026, HĐQT VNSteel ban hành Nghị quyết số 72/NQ-VNS, phê duyệt phương án chuyển nhượng toàn bộ 46,85% vốn điều lệ tại VTM với giá trị 1.048,68 tỷ đồng.
Do VTM thua lỗ kéo dài, VNSteel đã trích lập dự phòng 100% khoản đầu tư này, đưa giá trị còn lại trên sổ sách về 0 đồng. Vì vậy, nếu thương vụ hoàn tất theo mức giá được phê duyệt, VNSteel có thể thu hồi một nguồn lực đáng kể và bổ sung dòng tiền trong bối cảnh nợ ngắn hạn, chi phí tài chính ở mức cao.
Tuy nhiên, số tiền và thời điểm ghi nhận lợi nhuận thực tế còn phụ thuộc vào tiến độ chuyển nhượng, nghĩa vụ tài chính, chi phí phát sinh và phương pháp hạch toán. Do đó, việc phê duyệt phương án chưa đồng nghĩa toàn bộ gần 1.049 tỷ đồng sẽ được ghi nhận ngay vào lợi nhuận trong cùng kỳ.
Việc thoái vốn khỏi VTM cũng mới giải quyết một phần bài toán tái cơ cấu của VNSteel, trong khi tổng công ty vẫn phải khắc phục những tồn tại trong quản lý vốn Nhà nước và nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
VNSteel hiện phải cân đối gần 14.000 tỷ đồng nợ ngắn hạn, kiểm soát chi phí vốn và tìm phương án tháo gỡ Dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2. Riêng dự án đình trệ từ năm 2013 này đang ghi nhận hơn 6.579 tỷ đồng chi phí xây dựng cơ bản dở dang, chiếm gần như toàn bộ giá trị dở dang của tổng công ty. Do đó, hiệu quả tái cơ cấu VNSteel không chỉ phụ thuộc vào tiến độ thoái vốn tại VTM mà còn nằm ở khả năng xử lý các dự án kéo dài, khơi thông nguồn lực và củng cố cơ chế quản trị trong toàn hệ thống.
VTM được thành lập năm 2007 để triển khai dự án khai thác mỏ sắt Quý Xa và Nhà máy Gang thép Lào Cai. Cơ cấu vốn ban đầu gồm VNSteel sở hữu 46,85%, Công ty Khoáng sản Lào Cai (LAMICO) nắm 8,15% và Công ty Gang thép Côn Minh (KISC, Trung Quốc) sở hữu 45%.
Liên doanh từng được kỳ vọng hình thành chuỗi sản xuất khép kín từ khai thác quặng, luyện gang đến sản xuất thép, qua đó góp phần chủ động nguồn nguyên liệu cho ngành thép trong nước. Tuy nhiên, hoạt động của VTM sau đó liên tục gặp khó khăn và thua lỗ kéo dài.
Gần đây, KISC đã rút khỏi liên doanh, chuyển nhượng phần vốn cho Công ty CP Khai thác và Chế biến Kim loại Thủ đô. Doanh nghiệp này được thành lập cuối năm 2025, có vốn điều lệ 1.200 tỷ đồng, do ông Trần Văn Nam giữ chức Tổng giám đốc.
Theo đăng ký doanh nghiệp mới nhất, VTM có vốn điều lệ 1.982 tỷ đồng. Trong đó, VNSteel sở hữu 46,85%, Công ty CP Khai thác và Chế biến Kim loại Thủ đô nắm 45%, còn LAMICO sở hữu 8,15%. Sự xuất hiện của nhà đầu tư mới diễn ra trong bối cảnh dự án cần thêm nguồn lực để tái khởi động, trong khi VNSteel lựa chọn rút toàn bộ vốn khỏi liên doanh.
Dù hiệu quả hoạt động chưa đạt kỳ vọng, VTM đang quản lý dự án khai thác mỏ sắt Quý Xa, một trong những mỏ quặng sắt quy mô lớn tại Việt Nam. Theo báo cáo đánh giá tác động môi trường, dự án sử dụng khoảng 423,91 ha đất, trong đó khu vực khai trường chiếm 81,78 ha.
Mỏ có trữ lượng thiết kế hơn 73,2 triệu tấn, công suất dự kiến 5 triệu tấn quặng mỗi năm và thời gian khai thác khoảng 15 năm 8 tháng. Bộ Công Thương từng đánh giá Quý Xa là một trong những mỏ quặng sắt có quy mô lớn và chất lượng tại Đông Nam Á.
Ý kiến bạn đọc (0)