Chi phí dự phòng tăng gấp đôi, lợi nhuận quý II của VIB giảm hơn 8%
Theo báo cáo tài chính quý II/2026 vừa công bố, Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) ghi nhận tổng thu nhập hoạt động đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế giảm 8,2%, còn 2.383 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông ngân hàng mẹ đạt 1.905 tỷ đồng, giảm 8,3%.

Nguyên nhân chính khiến lợi nhuận đi xuống đến từ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh. Trong quý II, VIB trích lập 1.281 tỷ đồng dự phòng, cao hơn 101,7% so với cùng kỳ. Mức tăng này đã thu hẹp đáng kể phần lợi nhuận tạo ra trước dự phòng, dù chỉ tiêu này vẫn tăng 13,4%, lên 3.664 tỷ đồng.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu nhập hoạt động của VIB đạt 11.228 tỷ đồng, tăng 15,5%. Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng đạt 7.672 tỷ đồng, tăng 26,3%.
Dù vậy, chi phí dự phòng tăng 135,3%, lên 2.486 tỷ đồng, khiến lợi nhuận trước thuế chỉ tăng 3,4%, đạt 5.186 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông ngân hàng mẹ đạt 4.147 tỷ đồng, tăng 3,3%.
Kết quả nửa đầu năm của VIB có sự đóng góp từ một số khoản thu không thường xuyên, gồm khoản thu từ mảng thẻ trong quý I và phí bancassurance ghi nhận một lần trong quý II.
Tín dụng bán lẻ giảm, cho vay chủ đầu tư bất động sản tăng gần 58%
Tại thời điểm cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng của VIB tăng 4% so với đầu năm, thấp hơn mức tăng 8,5% của toàn hệ thống ngân hàng. Riêng quý II, dư nợ tăng 2,8% so với quý trước, cao hơn tốc độ giải ngân trong quý I nhưng vẫn chưa tạo ra mức tăng trưởng đáng kể.
Cơ cấu tín dụng có sự phân hóa rõ rệt. Trong đó, dư nợ khách hàng doanh nghiệp tăng 17,8% trong 6 tháng, trở thành động lực tăng trưởng chính, trong khi dư nợ bán lẻ giảm 2%.
Trong nhóm khách hàng doanh nghiệp, cho vay các chủ đầu tư bất động sản tăng 57,9%, còn cho vay các công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ tài chính tăng 11,7%. Hai nhóm này đóng vai trò chính trong tăng trưởng tín dụng của VIB trong nửa đầu năm, phần nào bù đắp sự suy yếu của phân khúc bán lẻ.
Theo đánh giá của Vietcap, nhu cầu tín dụng bán lẻ yếu là một trong những nguyên nhân khiến kết quả kinh doanh cốt lõi của VIB thấp hơn dự báo. Việc nợ xấu tiếp tục hình thành và dư nợ bán lẻ tăng chậm có thể tiếp tục gây sức ép lên lợi nhuận trong nửa cuối năm.
Trong khi tín dụng tăng chậm, thu nhập ngoài lãi của VIB vẫn ghi nhận mức tăng khá. Lũy kế 6 tháng, chỉ tiêu này đạt 2.822 tỷ đồng, tăng 40,2% so với cùng kỳ.
Riêng quý II, VIB ghi nhận 790 tỷ đồng thu nhập bancassurance, tăng 699% so với quý trước, trong đó kết quả được hỗ trợ bởi một khoản phí ghi nhận một lần. Tuy nhiên, tổng thu nhập ngoài lãi quý II vẫn giảm 12,9% so với cùng kỳ và giảm mạnh so với quý I do không còn khoản thu nhập bất thường từ mảng thẻ.
CASA xuống thấp nhất kể từ năm 2021, nợ xấu duy trì gần 3%
Tại cuối tháng 6/2026, tiền gửi khách hàng của VIB tăng 7,8% so với đầu năm. Tổng nguồn vốn, bao gồm tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá, cũng tăng 7,8% khi ngân hàng đẩy mạnh huy động thông qua chứng chỉ tiền gửi.
Trong khi đó, tỷ lệ CASA, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi ký quỹ, giảm còn 11,9%, thấp hơn 2,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 4,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Đây là mức thấp nhất của VIB kể từ năm 2021.
Sự suy giảm của nguồn vốn giá rẻ diễn ra trong bối cảnh lãi suất huy động tăng và ngân hàng phải dịch chuyển thêm sang các kênh vốn có chi phí cao hơn. Chi phí huy động bình quân trong 6 tháng tăng từ 4,09% lên 5,32%. Riêng quý II, chi phí huy động đạt 5,62%, tăng 149 điểm cơ bản so với cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, lợi suất tài sản sinh lãi quý II tăng lên 8,26%, cao hơn 142 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Nhờ đó, biên lãi ròng của VIB đạt 3,11%, tăng 17 điểm cơ bản so với quý trước và gần như đi ngang so với cùng kỳ.
Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu tại cuối quý II ở mức 2,93%, giảm 63 điểm cơ bản so với cùng kỳ và gần như không thay đổi so với quý trước. Tỷ lệ nợ nhóm 2 đạt 2,56%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì ở mức 43,6%.
Các chỉ số an toàn vốn và thanh khoản tiếp tục nằm trong giới hạn quy định. Hệ số an toàn vốn theo phương pháp tiêu chuẩn Basel III ở mức khoảng 12%; tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi đạt 79%; tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn ở mức 28%. Hệ số tài trợ ổn định ròng đạt 103%, cao hơn ngưỡng tối thiểu 100% của Basel III.
Ý kiến bạn đọc (0)