Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang giữ vai trò ngày càng lớn trong nền kinh tế Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2026, khối doanh nghiệp FDI đạt kim ngạch xuất khẩu 213,01 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ và chiếm 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Đây cũng là khu vực duy nhất tạo ra thặng dư thương mại, với mức xuất siêu 8,3 tỷ USD. Trong khi đó, khối doanh nghiệp trong nước xuất khẩu 53,51 tỷ USD nhưng nhập khẩu tới 78,46 tỷ USD, tương ứng mức nhập siêu 24,95 tỷ USD.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng mạnh. Tổng vốn FDI đăng ký trong nửa đầu năm đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61%. Vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% và là mức giải ngân 6 tháng cao nhất trong vòng 5 năm.
Tuy nhiên, vai trò lớn của khu vực FDI trong sản xuất, xuất khẩu và thu hút đầu tư chưa được phản ánh tương xứng trên thị trường vốn.
Tại Hội thảo “Lộ trình niêm yết cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam” diễn ra ngày 28/7, ông Hoàng Văn Thu - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho biết, kể từ khi thị trường chứng khoán đi vào hoạt động, chỉ có 11 doanh nghiệp FDI từng niêm yết hoặc đăng ký giao dịch. Hiện nay, số doanh nghiệp còn hiện diện trên thị trường chỉ là 10, trong tổng số gần 1.600 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch.

Quy mô của nhóm này cũng rất nhỏ. Tính đến cuối năm 2025, tổng vốn điều lệ đạt 12.629 tỷ đồng, tương đương 0,15% tổng vốn điều lệ toàn thị trường. Tổng tài sản đạt 44.696 tỷ đồng, chỉ chiếm 0,48%.
Đáng chú ý, từ năm 2017 đến nay, dù có thêm bốn doanh nghiệp FDI chuyển đổi thành công ty đại chúng, thị trường chưa ghi nhận trường hợp niêm yết hoặc đăng ký giao dịch mới nào. Khoảng cách vì vậy không chỉ nằm ở số lượng ít, mà còn ở việc danh sách doanh nghiệp FDI trên thị trường gần như không được bổ sung trong gần một thập kỷ.
Những doanh nghiệp FDI trên sàn đang hoạt động ra sao?
Một số cái tên phải kể đến như Dây và Cáp điện Taya Việt Nam (TYA), Công nghiệp Gốm sứ Taicera (TCR), Mirae (KMR), Thành Thành Công – Biên Hòa (SBT), Everpia (EVE), Siam Brothers Việt Nam, Công nghiệp Tung Kuang, Quốc tế Hoàng Gia (RIC), Gạch men Chang Yih (CYC) và Thực phẩm Quốc tế (IFS).
Nhóm doanh nghiệp này trải rộng ở nhiều lĩnh vực. Thành Thành Công – Biên Hòa và Thực phẩm Quốc tế hoạt động trong lĩnh vực đường, thực phẩm và đồ uống. Dây và Cáp điện Taya Việt Nam, Công nghiệp Tung Kuang, Gốm sứ Taicera và Gạch men Chang Yih thuộc nhóm sản xuất công nghiệp, vật liệu xây dựng. Mirae, Everpia và Siam Brothers Việt Nam hoạt động trong các ngành dệt, vật liệu và sản phẩm tiêu dùng, trong khi Quốc tế Hoàng Gia kinh doanh khách sạn và dịch vụ vui chơi có thưởng.
Thành Thành Công – Biên Hòa tiếp tục vượt trội về quy mô, với doanh thu thuần năm 2025 đạt 26.241 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 803 tỷ đồng. Đây là doanh nghiệp duy nhất trong nhóm ghi nhận doanh thu ở mức hàng chục nghìn tỷ đồng.
Đứng sau là Dây và Cáp điện Taya Việt Nam với doanh thu năm 2025 đạt 2.346,65 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế 118,51 tỷ đồng. Thực phẩm Quốc tế ghi nhận doanh thu hơn 2.005 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 140,72 tỷ đồng.
Ngoài ba doanh nghiệp trên, các đại diện còn lại đều có doanh thu dưới 1.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy dù có 10 doanh nghiệp FDI trên thị trường, quy mô thực chất vẫn tập trung vào một số ít cái tên. Phần lớn nhóm hiện hữu chưa đủ lớn để trở thành những doanh nghiệp dẫn dắt hoặc tạo ảnh hưởng đáng kể tới thị trường.

Kết quả kinh doanh cũng phân hóa rõ rệt. Dây và Cáp điện Taya Việt Nam là một trong những trường hợp tăng trưởng tích cực. Doanh thu năm 2025 tăng hơn 26%, còn lợi nhuận sau thuế tăng gần 53% so với năm trước. So với mức lợi nhuận chưa đầy 1 tỷ đồng năm 2023, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đã cải thiện đáng kể.
Thực phẩm Quốc tế vẫn duy trì quy mô doanh thu trên 2.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế giảm từ 172,93 tỷ đồng xuống 140,72 tỷ đồng, tương đương mức giảm hơn 18%, cho thấy khả năng sinh lời đang chịu áp lực dù doanh thu tiếp tục tăng.
Một số doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Everpia chuyển từ khoản lỗ hơn 30 tỷ đồng năm 2024 sang lãi 39,22 tỷ đồng trong năm 2025. Gốm sứ Taicera cũng thoát khoản lỗ hơn 61 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận mới đạt khoảng 2 tỷ đồng.
Quốc tế Hoàng Gia có lãi trở lại 6,81 tỷ đồng sau ba năm liên tiếp thua lỗ. Tuy vậy, lợi nhuận còn khá nhỏ so với quy mô doanh thu cũng như tổng mức thua lỗ doanh nghiệp từng ghi nhận trong những năm trước.
Ở chiều ngược lại, Mirae tiếp tục đối mặt với xu hướng thu hẹp hoạt động. Doanh thu giảm từ gần 599 tỷ đồng năm 2022 xuống còn hơn 296 tỷ đồng năm 2025, tức mất hơn một nửa sau ba năm. Lợi nhuận sau thuế năm 2025 chỉ đạt 5,69 tỷ đồng.
Công nghiệp Tung Kuang vẫn có lãi nhưng cả doanh thu và lợi nhuận đều đi xuống. Doanh thu năm 2025 giảm hơn 15%, còn lợi nhuận sau thuế giảm gần 38%, xuống 32,65 tỷ đồng.
Siam Brothers Việt Nam đã thu hẹp khoản lỗ từ hơn 35 tỷ đồng xuống còn 2,77 tỷ đồng, nhưng chưa trở lại trạng thái có lãi. Khó khăn rõ hơn tại Gạch men Chang Yih khi doanh thu giảm năm thứ ba liên tiếp, còn khoản lỗ sau thuế tăng từ 23,55 tỷ đồng lên 29,76 tỷ đồng.
Như vậy, 08 trong số 10 doanh nghiệp báo lãi theo kỳ số liệu gần nhất. Tuy nhiên, con số này chưa phản ánh đầy đủ chất lượng hoạt động. Một số doanh nghiệp mới thoát lỗ với mức lợi nhuận nhỏ, trong khi một số khác đang đối mặt với xu hướng thu hẹp doanh thu hoặc suy giảm hiệu quả kinh doanh.

Những đại diện hiện hữu chưa phản ánh diện mạo FDI
Bên cạnh quy mô kinh doanh hạn chế, thanh khoản của phần lớn cổ phiếu FDI cũng khá thấp.
Theo dữ liệu tổng hợp, Thành Thành Công – Biên Hòa là trường hợp nổi bật với hơn 778.000 cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên.
Ngoài cổ phiếu này, không mã nào đạt khối lượng giao dịch bình quân 50.000 cổ phiếu mỗi phiên. Everpia đứng tiếp theo với khoảng 40.000 cổ phiếu, Quốc tế Hoàng Gia hơn 27.000 cổ phiếu, Mirae gần 19.000 cổ phiếu và Dây và Cáp điện Taya Việt Nam gần 17.000 cổ phiếu.
Thanh khoản của các mã còn lại chỉ dao động từ vài nghìn cổ phiếu trở xuống. Công nghiệp Tung Kuang đạt bình quân khoảng 1.287 cổ phiếu mỗi phiên, trong khi Gạch men Chang Yih gần như không phát sinh giao dịch.
Cơ cấu sở hữu tập trung tại nhiều doanh nghiệp có thể là một trong những yếu tố hạn chế lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại Thực phẩm Quốc tế lên tới 97,58%; tại Everpia là 67,45%; Mirae 64,82%; Công nghiệp Tung Kuang 52,09%; Gốm sứ Taicera 49% và Gạch men Chang Yih 48,6%.
Khi phần lớn cổ phần nằm trong tay công ty mẹ, cổ đông sáng lập hoặc nhà đầu tư chiến lược, lượng cổ phiếu thực sự lưu hành trên thị trường có thể không lớn. Thanh khoản thấp khiến các cổ phiếu này khó thu hút dòng tiền tổ chức, đồng thời hạn chế vai trò trong việc nâng quy mô và chất lượng hàng hóa của thị trường.
Nhưng khoảng trống lớn hơn nằm ở cơ cấu ngành nghề. Các doanh nghiệp FDI hiện hữu chủ yếu hoạt động trong những ngành truyền thống như đường, thực phẩm, dệt may, dây cáp, nhôm, gốm sứ và vật liệu xây dựng. Trong khi đó, những lĩnh vực đang tạo nên vị thế xuất khẩu của khu vực FDI lại gần như không có đại diện lớn trên thị trường chứng khoán.
Trong nửa đầu năm 2026, điện tử, máy tính và linh kiện là nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch 71,16 tỷ USD, tăng 49,1%. Máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt 33,24 tỷ USD, còn điện thoại và linh kiện đạt 31,7 tỷ USD. Đây đều là những lĩnh vực có sự hiện diện lớn của khu vực FDI.
Tuy nhiên, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam gần như chưa có cơ hội sở hữu cổ phần trực tiếp tại những doanh nghiệp FDI quy mô lớn đang dẫn dắt các ngành điện tử, công nghệ, linh kiện và thiết bị.
Niêm yết thêm nhưng phải tạo ra hàng hóa có chất lượng
Theo Phó Chủ tịch UBCKNN Hoàng Văn Thu, quá trình rà soát của UBCKNN cho thấy doanh nghiệp FDI vẫn phải xử lý nhiều điều kiện và cam kết trước khi tham gia thị trường chứng khoán.
Các doanh nghiệp từng hưởng ưu đãi thuế hoặc có cam kết với chính quyền địa phương cần hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ liên quan trước khi niêm yết. Doanh nghiệp thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư, hoạt động trong lĩnh vực chịu điều chỉnh bởi các cam kết quốc tế hoặc triển khai dự án thông qua đấu thầu cũng phải rà soát kỹ các điều kiện pháp lý.
Ngoài ra, những ràng buộc về chuyển nhượng vốn trong các hợp đồng đã ký với Chính phủ có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi, chào bán cổ phần và niêm yết.
Điều này cho thấy mở rộng niêm yết cho doanh nghiệp FDI không chỉ là câu chuyện sửa đổi quy định của thị trường chứng khoán. Quá trình này còn liên quan đến pháp luật đầu tư, doanh nghiệp, thuế, đất đai và những cam kết riêng tại từng dự án.
Ở chiều ngược lại, bản thân nhiều doanh nghiệp FDI lớn cũng chưa có động lực rõ ràng để niêm yết tại Việt Nam. Các doanh nghiệp này có thể nhận vốn từ công ty mẹ, vay nội bộ tập đoàn hoặc huy động trên thị trường quốc tế. Việc lên sàn đồng nghĩa phải đáp ứng thêm yêu cầu về công bố thông tin, kiểm toán, quản trị và chia sẻ quyền sở hữu.
Do đó, chính sách không nên chỉ hướng tới việc tăng số lượng doanh nghiệp FDI trên thị trường. Nếu những trường hợp mới tiếp tục có quy mô nhỏ, cổ phiếu tự do chuyển nhượng ít và thanh khoản thấp, tác động đối với thị trường sẽ không đáng kể.
Mục tiêu quan trọng hơn là thu hút được các doanh nghiệp FDI đầu ngành, hoạt động thực chất và lâu dài tại Việt Nam, có quy mô đủ lớn, nền tảng tài chính minh bạch và sẵn sàng đưa một tỷ lệ cổ phần đủ hấp dẫn ra công chúng.
Khi đó, thị trường chứng khoán mới không chỉ có thêm doanh nghiệp niêm yết, mà còn có thêm những hàng hóa thực sự phản ánh các động lực sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.
Ý kiến bạn đọc (0)