Giữa nhịp sống đô thị của Hà Nội, bên những bãi bồi đỏ nặng phù sa của sông Hồng vẫn tồn tại một ngôi làng mang trong mình lớp trầm tích lịch sử kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Đó là làng Bắc Biên, nay thuộc phường Bồ Đề, TP. Hà Nội.
Những con ngõ nhỏ, đình, chùa, đền cùng bãi rau ven sông tạo nên một không gian rất khác so với phố thị cách đó không xa. Với nhiều thế hệ cư dân Bắc Biên, sông Hồng không đơn thuần là một dòng sông mà còn gắn với lịch sử hình thành, những cuộc thiên di và hành trình bám đất, dựng làng suốt hàng trăm năm.

Theo các tư liệu cổ, văn bia và ngọc phả được lưu giữ tại địa phương, nguồn gốc của Bắc Biên ngày nay gắn với làng An Xá xưa, vốn nằm gần khu vực chùa Một Cột hiện nay.
Năm Canh Tuất 1010, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Đại La và đổi tên thành Thăng Long, cư dân An Xá được cho là đã nhường đất đai, ruộng vườn và nhà cửa để phục vụ việc xây dựng kinh thành. Người dân sau đó di chuyển ra vùng bãi ven sông Hồng, khai hoang và gây dựng cuộc sống mới. Cuộc thiên di ấy mở ra hành trình kéo dài hơn nghìn năm của một cộng đồng cư dân gắn chặt với dòng sông.
Ngôi làng nhiều lần đổi tên, dịch chuyển theo dòng sông Hồng
Sinh sống ngoài đê đồng nghĩa với việc người dân phải thường xuyên đối mặt với lũ lụt và sạt lở. Qua nhiều thế kỷ, nhà cửa và không gian cư trú của làng phải liên tục thay đổi theo sự biến động của dòng sông.
Tên gọi của làng vì thế cũng trải qua nhiều lần thay đổi. Từ An Xá, làng từng mang tên Cơ Xá, gắn với đặc điểm cư dân thường xuyên phải cơ động, thích nghi với điều kiện tự nhiên.
Đến thời Nguyễn, tên Phúc Xá xuất hiện với mong ước về cuộc sống bình yên. Sau những lần sạt lở, một bộ phận cư dân tiếp tục vượt sông sang bờ Bắc, dựng đình, lập chùa và dần hình thành Bắc Biên ngày nay.
Theo lời các cao niên địa phương, nhiều dòng họ đã sinh sống trên vùng đất này qua 15-16 thế hệ. Điều đặc biệt hơn cả là Bắc Biên còn gắn với một trong những danh tướng nổi tiếng nhất lịch sử Việt Nam: Lý Thường Kiệt (1019-1105).
Theo những tư liệu được lưu giữ tại địa phương, đây được xem là quê hương bản quán, nơi gắn với thời niên thiếu của vị danh tướng triều Lý.
Lý Thường Kiệt để lại dấu ấn lớn trong lịch sử với chủ trương chủ động tiến công các căn cứ của nhà Tống tại Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu vào năm 1075. Hai năm sau, ông tiếp tục chỉ huy phòng tuyến sông Như Nguyệt chống quân Tống.
Tên tuổi của vị danh tướng cũng gắn với bài thơ “Nam quốc sơn hà”, thường được nhắc đến như một bản tuyên ngôn về chủ quyền của Đại Việt trong lịch sử.
Tại Bắc Biên, không gian thờ tự Lý Thường Kiệt còn lưu giữ nhiều hiện vật như ngọc phả, văn bia, sắc phong và câu đối. Trong đình có hai tấm bia thời Nguyễn, bảy đạo sắc phong cổ, tám đôi câu đối ca ngợi công tích cùng pho tượng đồng có kích thước tương đương người thật.
Không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, đình ngày nay còn trở thành địa điểm giáo dục truyền thống. Nhiều đoàn học sinh, thanh niên tìm đến tham quan, tìm hiểu lịch sử và những câu chuyện gắn với vùng đất cổ bên sông Hồng.
Cách đình không xa là chùa Bắc Biên, tên cổ An Xá tự. Một trong những hiện vật đặc biệt nhất tại đây là chiếc chuông đồng cổ An Xá.
Theo nội dung bài viết cung cấp, ngày 3/2/2026, chuông An Xá được công nhận là Bảo vật Quốc gia theo Quyết định số 236/QĐ-TTg.
Giá trị của chiếc chuông không chỉ nằm ở niên đại hay nghệ thuật chế tác. Trên thân chuông còn lưu giữ hơn 5.500 chữ Hán, chứa nhiều thông tin liên quan đến đời sống xã hội, tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng và hoạt động hành chính trong quá khứ.
Vì vậy, chiếc chuông được xem như một nguồn tư liệu đặc biệt để tìm hiểu lịch sử của vùng đất cũng như đời sống cư dân Thăng Long xưa.
Bắc Biên còn đáng chú ý bởi hệ thống đình, chùa, đền tạo nên một không gian tín ngưỡng khá đặc biệt của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng.
Theo các cao niên, hệ thống này tạo thành một trục văn hóa gắn với Thiên - Địa - Nhân và Sơn - Thủy - Nhân Văn. Đền Mẫu Thoải nằm sát sông Hồng, gắn với tín ngưỡng thờ thần sông nước; Đền Rừng thờ Mẫu Thượng Ngàn, đại diện cho yếu tố núi rừng; trong khi đình làng thờ Lý Thường Kiệt, vị anh hùng dân tộc đồng thời được tôn kính trong đời sống tinh thần của cộng đồng.

Đáng chú ý, Đền Mẫu Thoải nằm ngay bên dòng sông Hồng - dòng sông gắn trực tiếp với đời sống cư dân Bắc Biên qua nhiều thế hệ.
"Ký ức sống" của Thăng Long bên dòng phù sa
Điều làm nên sức hấp dẫn của Bắc Biên không chỉ nằm ở những di tích hay hiện vật cổ. Đó còn là không gian làng ven sông vẫn hiện hữu giữa một Hà Nội đang đô thị hóa nhanh chóng.
Những con ngõ nhỏ quanh co vẫn dẫn ra bãi bồi. Ngoài đê, những luống rau xanh trải dài trên lớp phù sa của sông Hồng. Trong làng, đình, chùa, đền và những cây cổ thụ tiếp tục tạo nên dáng vẻ của một cộng đồng dân cư đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Chính sự gắn kết giữa lịch sử, tín ngưỡng và cảnh quan sông nước tạo cho Bắc Biên một nét riêng hiếm gặp. Đây không phải một làng cổ nổi tiếng bởi hàng trăm căn nhà truyền thống như Đường Lâm, cũng không phải điểm du lịch đông đúc, mà hấp dẫn bởi những lớp ký ức của Thăng Long được lưu giữ trong từng di tích và câu chuyện của người dân.
Từ dấu tích làng An Xá, cuộc thiên di khi kinh thành Thăng Long được hình thành, câu chuyện về danh tướng Lý Thường Kiệt cho tới chiếc chuông cổ được công nhận Bảo vật Quốc gia, lịch sử của Bắc Biên dường như luôn song hành với lịch sử của kinh thành bên sông Hồng.
Hơn một nghìn năm trôi qua, dòng sông vẫn tiếp tục bồi rồi lở, diện mạo đô thị cũng không ngừng thay đổi. Nhưng giữa những biến động ấy, Bắc Biên vẫn như một “ký ức sống” của Thăng Long nghìn năm, nơi lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách mà còn hiện hữu trong đình làng, tiếng chuông chùa và những bãi phù sa trải dài bên “sông mẹ”.
Ý kiến bạn đọc (0)