Có những dòng sông không đơn thuần chảy qua một vùng đất mà trở thành một phần ký ức của vùng đất ấy. Với Thanh Hóa, sông Mã là một dòng sông như thế.
Sau hành trình từ vùng núi Tây Bắc, qua lãnh thổ Lào, sông Mã trở lại Việt Nam và đi vào Thanh Hóa từ vùng biên giới phía tây. Từ đây, dòng nước tiếp tục xuôi qua miền núi, mở dần về trung du và đồng bằng trước khi hướng ra vịnh Bắc Bộ.

Tài liệu nghiên cứu của Đại học Hồng Đức cho biết sông Mã dài khoảng 512 km, trong đó đoạn chảy qua Thanh Hóa khoảng 270 km. Trong sử cũ, dòng sông từng được gọi là Lỗi Giang, ngoài ra còn xuất hiện những tên gọi như Tất Mã, Lễ, Định Minh, Nguyệt Thường hay Hội Thường.
Nhưng những tên gọi ấy mới chỉ là lớp đầu tiên trong câu chuyện dài của dòng Mã. Bởi theo dòng nước từ miền núi xuống biển cũng là lần theo dấu tích của những cộng đồng cư dân, những nền văn hóa cổ, những chuyến bè xuôi ngược và những vùng đất đã lớn lên bên dòng sông.
Dòng sông bồi đắp một miền văn hóa
Không phải ngẫu nhiên sông Mã thường xuất hiện khi nhắc đến lịch sử và văn hóa xứ Thanh.
Cùng với sông Chu và hệ thống phụ lưu, sông Mã góp phần kiến tạo, bồi đắp nên vùng đồng bằng Thanh Hóa, tạo điều kiện cho con người tụ cư và khai phá đất đai từ rất sớm. Các nghiên cứu về vùng đất này cho thấy hệ thống sông Mã – sông Chu có quan hệ mật thiết với quá trình hình thành những nền văn hóa cổ, trong đó nổi bật là văn hóa Đông Sơn.
Tên gọi Đông Sơn sau này trở thành tên của cả một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng. Di chỉ Đông Sơn được phát hiện năm 1924 tại làng Đông Sơn bên sông Mã; từ địa danh này, thuật ngữ "Văn hóa Đông Sơn" ra đời. Châu thổ sông Mã cũng được xác định là một trong những trung tâm quan trọng của nền văn hóa ấy.
Bởi vậy, đứng bên sông Mã hôm nay, phía sau cảnh những xóm làng và ruộng đồng trải dọc hai bờ còn là một lớp trầm tích văn hóa kéo dài qua hàng nghìn năm.
Dòng sông cung cấp nước, thủy sản, bồi đắp những vùng đất ven bờ và đồng thời tạo thành con đường tự nhiên kết nối miền núi với đồng bằng.
Ở vùng trung lưu, người Mường đã tụ cư từ lâu đời trong những thung lũng và bãi bồi ven sông. Nguồn nước và đất đai tạo điều kiện cho nghề trồng lúa nước, hoa màu, đánh bắt thủy sản phát triển. Trong quá trình sống bên dòng Mã, cộng đồng cư dân cũng tích lũy những kinh nghiệm riêng về con nước, đánh bắt và đi lại trên sông.

Tên gọi dòng sông cũng được lưu giữ theo những cách khác nhau trong cộng đồng bản địa. Một nghiên cứu của Đại học Hồng Đức ghi nhận người Thái ở vùng Bá Thước trước đây gọi sông Mã là Nặm Má. Trong truyền thuyết và lời Mo Mường, dòng sông còn xuất hiện với những tên gọi khác như sông Ly, sông Láng; người Mường tại một số vùng lại gọi là sông Phão.
Có cách lý giải dân gian cho rằng tên Nặm Má liên quan tới "con nước lớn", đồng thời cũng tồn tại cách kể gắn tên dòng sông với cây Mạ ở vùng đầu nguồn. Đây là những cách giải thích được lưu truyền trong cộng đồng, cho thấy dòng sông không chỉ tồn tại trên bản đồ mà đã đi sâu vào đời sống văn hóa của cư dân hai bên bờ.
Con đường giao thương nối miền ngược với miền xuôi
Trước khi những tuyến quốc lộ, cao tốc và những cây cầu lớn tạo nên mạng lưới giao thông như ngày nay, sông Mã từng giữ vai trò như một tuyến đường thủy quan trọng của xứ Thanh.
Theo các tài liệu nghiên cứu, dòng sông từng là con đường giao thương nối vùng miền núi phía tây với đồng bằng và vùng biển. Lâm thổ sản từ miền núi theo dòng nước về xuôi, trong khi hàng thủ công, hải sản và nhiều nhu yếu phẩm lại theo thuyền bè đi ngược lên phía thượng nguồn.
Một hình ảnh đặc trưng của sông Mã trước đây là những bè luồng. Từ vùng miền núi, luồng được kết thành bè rồi xuôi theo dòng Mã xuống đồng bằng, thậm chí tới các bến thuộc hệ thống sông Lèn và vùng gần biển. Ở chiều ngược lại, mắm, muối, lương thực và thực phẩm được đưa lên vùng cao. Hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng bè, mảng vẫn còn diễn ra thường xuyên trong những thập niên 1970–1980.
Dòng Mã vì vậy không chỉ đưa hàng hóa đi xa. Theo những chuyến bè và thuyền xuôi ngược còn có sự giao lưu giữa các cộng đồng cư dân. Ngôn ngữ, tập quán, sản vật và phương thức sản xuất theo dòng nước gặp gỡ nhau góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa của vùng đất Thanh Hóa.
Từ góc nhìn ấy, sông Mã từng giống như một "con đường" xuyên qua xứ Thanh, nối núi rừng với đồng bằng và đưa đồng bằng hướng ra biển.
Từ Lạch Trường đến cửa Hới, dấu tích những lần dòng sông đổi hướng
Câu chuyện của sông Mã còn đặc biệt ở chỗ cửa ra biển của dòng sông không phải lúc nào cũng mang diện mạo như ngày nay.
Các nghiên cứu lịch sử cho thấy Lạch Trường từng giữ vai trò cửa chính quan trọng của sông Mã trong những thời kỳ trước. Khu vực này không chỉ có ý nghĩa giao thông mà còn mang vị trí quân sự đáng kể. Tư liệu được các nhà nghiên cứu dẫn lại cho thấy nhiều triều đại từng chú ý đến việc phòng thủ, khơi vét và bảo đảm hoạt động tại khu vực cửa biển này.
Theo quá trình biến đổi tự nhiên của hệ thống sông, vai trò cửa chính dần chuyển về cửa Hới – Lạch Trào. Một số nghiên cứu xác định quá trình sông Mã "trổ" qua khu vực Hàm Rồng để hình thành nhánh Lạch Trào và đưa cửa Hới trở thành cửa chính diễn ra trong khoảng từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX.
Cửa Hội Triều, gắn với khu vực Lạch Trào – cửa Hới, cũng từng xuất hiện trong các tư liệu về giao thương thời Đại Việt. Nghiên cứu của các nhà sử học dẫn tư liệu cho biết vào thế kỷ XV, nơi đây đã được quy định là một trong những địa điểm liên quan đến hoạt động lưu trú của khách thương ngoại quốc.
Những tư liệu ấy cho thấy phía cuối hành trình của dòng Mã từng là một không gian giao thương hướng ra biển, đồng thời phản ánh quá trình biến đổi kéo dài của chính dòng sông.
Một cửa sông có thể bồi lắng, một dòng chảy có thể chuyển hướng và một bến nước từng đông đúc có thể dần mất vai trò. Nhưng dấu vết của những biến động ấy vẫn còn nằm trong địa danh, sử liệu và ký ức của vùng đất.

Dòng Mã giữa xứ Thanh hôm nay
Qua nhiều thế kỷ, vai trò của dòng Mã đã thay đổi. Những đoàn bè luồng từng nối nhau xuôi về đồng bằng không còn là hình ảnh quen thuộc. Đường bộ và những cây cầu đã thay đổi căn bản phương thức đi lại, vận chuyển hàng hóa giữa các vùng.
Nhưng dòng Mã vẫn tiếp tục hiện diện trong đời sống xứ Thanh theo một cách khác. Hai bên dòng nước là những vùng cư trú đã hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ. Ở miền núi, dấu ấn của những cộng đồng sống dựa vào thung lũng, bãi bồi và nguồn nước vẫn hiện hữu. Xuôi về đồng bằng là những vùng sản xuất nông nghiệp, khu dân cư và không gian đô thị ngày càng mở rộng.
Ngay cả khi vai trò giao thông đường thủy không còn như trước, dòng sông vẫn là một phần của không gian sinh thái, sản xuất và văn hóa địa phương. Đi dọc dòng Mã vì vậy không đơn thuần là hành trình tìm kiếm phong cảnh.
Đó còn là hành trình từ những tên gọi cổ như Lỗi Giang, Nặm Má đến dòng Mã ngày nay; từ dấu tích của cư dân cổ và văn hóa Đông Sơn đến những bản làng hình thành bên sông; từ những bè luồng chở lâm sản về xuôi đến mắm, muối được đưa ngược lên miền núi; từ Lạch Trường từng giữ vị trí quan trọng đến cửa Hới – Lạch Trào hướng dòng nước ra biển.
Mỗi đoạn sông lưu giữ một lớp câu chuyện khác nhau. Qua những lớp câu chuyện ấy, sông Mã hiện lên không chỉ là một dòng nước chảy qua Thanh Hóa, mà như một trục kết nối miền núi với đồng bằng, quá khứ với hiện tại và con người với vùng đất họ đã sinh sống qua nhiều thế hệ.
Dòng sông vẫn chảy, trong khi những miền đất hai bên bờ tiếp tục đổi thay. Nhưng phía sau nhịp sống hôm nay, câu chuyện hàng nghìn năm của xứ Thanh vẫn có thể được lần tìm theo chính dòng nước ấy.
Ý kiến bạn đọc (0)