Ngày 8/7, tại Hà Nội, Cục Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị “Nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh - Góc nhìn pháp luật và thực tiễn”.
Hội nghị là một trong những hoạt động triển khai Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hộ kinh doanh giai đoạn 2026 - 2030.
Trong bối cảnh khu vực kinh tế tư nhân được kỳ vọng đóng vai trò ngày càng lớn trong tăng trưởng, câu chuyện hỗ trợ DNNVV không chỉ nằm ở việc ban hành thêm chính sách. Vấn đề quan trọng hơn là chính sách đó có đi được đến doanh nghiệp hay không, doanh nghiệp có hiểu, đáp ứng và khai thác được hay không.
Tại hội nghị, nhiều ý kiến đã chỉ ra một thực tế đáng chú ý: DNNVV và hộ kinh doanh là khu vực có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhưng việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn nhiều khó khăn. Các rào cản chủ yếu đến từ bốn nhóm nguyên nhân gồm bất cập trong thiết kế chính sách, hạn chế trong tổ chức thực thi, năng lực tiếp cận của doanh nghiệp còn hạn chế và các "rào cản" từ môi trường thể chế.
Chính sách nhiều, nhưng doanh nghiệp tiếp cận chưa tương xứng
DNNVV và hộ kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an sinh xã hội. Tại Việt Nam, khu vực DNNVV chiếm hơn 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, trong khi hộ kinh doanh vẫn là bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp vào tạo việc làm, thu nhập và phát triển kinh tế địa phương.
Những năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện nhằm hỗ trợ DNNVV. Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng để triển khai nhiều nhóm chính sách về tín dụng, thuế, mặt bằng sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số, khởi nghiệp sáng tạo và tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng chính sách chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp thụ hưởng được nhiều hơn. Khoảng cách giữa chính sách được ban hành và khả năng tiếp cận của đối tượng thụ hưởng vẫn là vấn đề nổi bật. Không ít chính sách có phạm vi điều chỉnh rộng, nhưng số lượng doanh nghiệp thực sự được hưởng còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp không nắm được thông tin, không đáp ứng được điều kiện hoặc gặp khó trong quá trình hoàn thiện thủ tục.
Đây là điểm nghẽn cần được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế. Với DNNVV, chi phí tiếp cận chính sách không chỉ là lệ phí hay chi phí hồ sơ. Đó còn là thời gian tìm kiếm thông tin, chi phí nhân sự chuẩn bị tài liệu, thời gian chờ xử lý, chi phí cơ hội khi doanh nghiệp bỏ lỡ thời điểm kinh doanh và cả tâm lý e ngại khi phải làm việc với nhiều đầu mối khác nhau.
Khi tổng chi phí tiếp cận lớn hơn lợi ích kỳ vọng từ chính sách, doanh nghiệp có thể lựa chọn không tham gia, dù trên lý thuyết thuộc diện được hỗ trợ. Đây là lý do khiến nhiều chính sách “có” nhưng chưa thực sự “dùng được” đối với nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ.
Một điểm đáng chú ý là cách tiếp cận chính sách không được nhìn như một thủ tục đơn lẻ, mà là một chuỗi gồm nhiều giai đoạn: tiếp cận thông tin, đáp ứng điều kiện thụ hưởng, thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận lợi ích chính sách và đánh giá hiệu quả thụ hưởng. Chỉ cần một khâu bị nghẽn, toàn bộ quá trình hỗ trợ có thể không đạt mục tiêu.
Trên thực tế, một doanh nghiệp có thể biết đến chương trình hỗ trợ nhưng không rõ điều kiện cụ thể; có thể đáp ứng điều kiện nhưng không đủ nguồn lực để hoàn thiện hồ sơ; hoặc được phê duyệt hỗ trợ nhưng thời điểm nhận hỗ trợ không còn phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
Điều này cho thấy hiệu quả chính sách không thể chỉ đo bằng số lượng văn bản ban hành, số chương trình được triển khai hay quy mô nguồn lực dành cho hỗ trợ. Thước đo quan trọng hơn phải là mức độ doanh nghiệp thực sự tiếp cận và sử dụng được chính sách đó để cải thiện hoạt động.
Theo đó, một trong những nguyên nhân chính nằm ở sự phân tán của hệ thống quy định. Dù đã có luật chuyên ngành về hỗ trợ DNNVV, các chính sách cụ thể vẫn nằm rải rác trong nhiều văn bản thuộc các lĩnh vực như tín dụng, thuế, khoa học - công nghệ, đầu tư, thương mại, chuyển đổi số và đào tạo nhân lực. Điều này khiến doanh nghiệp phải tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn, làm tăng chi phí tiếp cận và nguy cơ bỏ lỡ các chương trình phù hợp.
Bên cạnh đó, quá trình tổ chức thực thi ở nhiều nơi còn thiếu đồng bộ. Mô hình nhiều chủ thể có thể mở rộng mạng lưới hỗ trợ, nhưng nếu thiếu cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu, doanh nghiệp lại phải tự đi tìm thông tin ở nhiều đầu mối khác nhau.
Với DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, nguồn lực quản trị thường hạn chế. Không phải doanh nghiệp nào cũng có bộ phận pháp chế, kế toán hoặc nhân sự chuyên trách theo dõi chính sách. Vì vậy, một chính sách được thiết kế phức tạp, nhiều điều kiện hoặc yêu cầu hồ sơ dày có thể vô tình loại chính nhóm có nhu cầu hỗ trợ lớn nhất ra khỏi quá trình thụ hưởng.
Hỗ trợ DNNVV phải chuyển từ “phổ biến” sang “giúp dùng được chính sách”
Từ góc độ phát triển kinh tế, hỗ trợ pháp lý cho DNNVV không nên chỉ dừng ở phổ biến văn bản hay giải đáp quy định. Đây cần được xem là một phần của chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh cho khu vực doanh nghiệp trong nước.
Tại Hội nghị, TS Trần Minh Sơn - Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ pháp lý cho DNNVV, Cục Pháp luật dân sự - kinh tế (Bộ Tư pháp) chia sẻ một số vấn đề chung trong thực thi chính sách hỗ trợ DNNVV. Theo đó, bên cạnh những kết quả tích cực, thực tiễn triển khai cho thấy vẫn còn một số vấn đề cần được nhìn nhận như: khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp, hộ kinh doanh vẫn còn khá lớn; tính đồng bộ trong tổ chức thực hiện giữa các cấp, ngành, các địa phương chưa phải lúc nào cũng đáp ứng yêu cầu; năng lực tuân thủ pháp luật của DNNVV, hộ kinh doanh còn chưa đồng đều...
Khi doanh nghiệp hiểu đúng quy định, giảm chi phí tuân thủ và hạn chế rủi ro pháp lý, họ có thêm điều kiện để tập trung nguồn lực cho sản xuất, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và nâng chất lượng quản trị. Ngược lại, nếu chính sách hỗ trợ khó tiếp cận, khu vực DNNVV sẽ tiếp tục gặp bất lợi so với các doanh nghiệp lớn, vốn có bộ máy chuyên môn tốt hơn và khả năng xử lý thủ tục cao hơn.
Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn phải đổi mới cách tổ chức thực thi. Chính sách cần được thiết kế theo hướng dễ hiểu, dễ tra cứu, rõ đầu mối, rõ điều kiện, rõ quy trình và giảm tối đa yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ, tăng cường sử dụng dữ liệu số, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về chính sách hỗ trợ DNNVV và hộ kinh doanh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức tư vấn và các đơn vị trung gian trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ và đồng hành với doanh nghiệp trong quá trình tiếp cận chính sách.
Một hướng đi đáng chú ý là chuyển từ đánh giá chính sách theo “đầu vào” và “đầu ra” sang đánh giá theo kết quả và tác động. Thay vì chỉ thống kê có bao nhiêu chương trình được ban hành, bao nhiêu hội nghị được tổ chức, cần đo lường tỷ lệ doanh nghiệp biết đến chính sách, thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ được chấp thuận, mức độ hài lòng của doanh nghiệp và tác động thực tế của chính sách đối với năng lực cạnh tranh.
Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp trở thành trung tâm của quá trình thực thi chính sách. Chính sách hỗ trợ không chỉ là việc Nhà nước “có chương trình”, mà là việc doanh nghiệp có thể sử dụng chương trình đó để giảm rủi ro, tiết kiệm chi phí, tiếp cận vốn, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực quản trị.
Hội nghị lần này vì vậy không chỉ mang ý nghĩa pháp lý, mà còn đặt ra một vấn đề kinh tế thiết thực: muốn khu vực DNNVV đóng góp mạnh hơn cho tăng trưởng, chính sách hỗ trợ phải đi qua được điểm nghẽn thực thi. Khi DNNVV không còn phải mất quá nhiều chi phí để tìm, hiểu và tiếp cận chính sách, nguồn lực hỗ trợ mới có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực tế.
Ý kiến bạn đọc (0)