Bài toán cần giải của Quảng Ninh trong tương lai
Trong Đề án thành lập Thành phố Quảng Ninh, nhiều đại biểu Quốc hội đánh giá địa phương đã có nền tảng kinh tế, hạ tầng và không gian phát triển đủ mạnh để bước sang mô hình quản trị mới. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là hàng loạt yêu cầu về kiểm soát chi phí sinh hoạt, hoàn thiện quy hoạch, bảo vệ môi trường và gìn giữ những giá trị đặc trưng như Vịnh Hạ Long, Yên Tử.

Theo hồ sơ Đề án, việc thành lập Thành phố Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính cấp xã hiện nay đã đáp ứng đầy đủ 5/5 điều kiện và 7/7 tiêu chuẩn theo quy định.
Nền tảng kinh tế cũng là một trong những yếu tố được đánh giá cao. Năm 2025, tốc độ tăng trưởng của Quảng Ninh đạt 11,89%, thuộc nhóm cao nhất cả nước. Quy mô kinh tế hiện khoảng 14 tỷ USD, đứng thứ 7 cả nước, trong khi thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt hơn 86.000 tỷ đồng.
Cùng với đó, Quảng Ninh sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông tương đối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy, hàng hải và hàng không; giữ vị trí cửa ngõ giao thương quốc tế và cùng Hà Nội, Hải Phòng hình thành tam giác động lực phía Bắc.
Tuy nhiên, các đại biểu cho rằng quá trình chuyển từ tỉnh sang thành phố trực thuộc Trung ương không thể chỉ được nhìn nhận ở góc độ nâng cấp đơn vị hành chính. Quan trọng hơn là khả năng tổ chức lại không gian phát triển, đổi mới mô hình quản trị và bảo đảm người dân thực sự được hưởng lợi từ quá trình đô thị hóa.
Không để chi phí đô thị hóa làm giảm chất lượng sống
Một trong những vấn đề được các đại biểu đặc biệt lưu ý là bài toán dân sinh.
Khi một địa phương phát triển lên mô hình đô thị ở cấp độ cao hơn, nhu cầu đầu tư, thương mại, dịch vụ và nhà ở thường tăng nhanh. Đi cùng với đó là nguy cơ giá thuê mặt bằng, giá đất, chi phí sản xuất và sinh hoạt tăng theo.
Với Quảng Ninh, yêu cầu đặt ra là phải có giải pháp kiểm soát các tác động này, tránh để tốc độ tăng trưởng kinh tế tạo thêm áp lực lên đời sống người dân.
Nhiều ý kiến đề nghị địa phương chủ động xây dựng cơ chế bình ổn giá cả đối với những mặt hàng, dịch vụ thiết yếu, đồng thời tăng nguồn cung nhà ở xã hội và các dịch vụ công cơ bản.
Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với lực lượng lao động tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, trung tâm du lịch và những địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh.
Cùng với giá cả, việc chuyển đổi giấy tờ pháp lý sau khi thay đổi mô hình hành chính cũng cần được chuẩn bị kỹ.
Các đại biểu đề nghị chính quyền phải chủ động hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục phát sinh, hạn chế tối đa việc phải đi lại nhiều lần hoặc phát sinh thêm chi phí.
Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan chức năng có thể bố trí làm việc ngoài giờ hành chính, đồng thời nghiên cứu miễn phí các thủ tục chuyển đổi có liên quan trực tiếp đến việc thay đổi đơn vị hành chính.
Yêu cầu xuyên suốt là quá trình chuyển đổi không được làm gián đoạn dịch vụ công hoặc ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Chuyển đổi số vì vậy được xác định là một trong những công cụ quan trọng để giảm thủ tục, tăng tính minh bạch và tự động hóa các dịch vụ hành chính.
Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng phải chuẩn bị sớm cho những áp lực thường xuất hiện khi đô thị hóa tăng tốc như ùn tắc giao thông, thiếu nhà ở xã hội, quá tải bệnh viện, trường học, thiếu không gian công cộng và ô nhiễm môi trường.
Đặc điểm địa hình phân hóa mạnh khiến bài toán này càng phức tạp.
Khoảng cách phát triển giữa khu vực đô thị, ven biển với miền núi, biên giới vẫn còn đáng kể. Nếu nguồn lực chỉ tiếp tục tập trung vào một số cực tăng trưởng lớn, sự chênh lệch có thể gia tăng.
Do đó, nhiều đại biểu đề nghị xây dựng cơ chế điều tiết nguồn lực từ những địa bàn phát triển nhanh để tăng đầu tư hạ tầng, giáo dục, y tế và an sinh tại khu vực khó khăn.
Mục tiêu không chỉ là tạo ra một thành phố có quy mô kinh tế lớn, mà còn phải bảo đảm khả năng tiếp cận dịch vụ và chất lượng sống tương đối đồng đều giữa các khu vực.
Phát triển kinh tế biển nhưng không đánh đổi di sản
Một thách thức khác được đặt ra là cân bằng giữa công nghiệp, kinh tế biển và bảo tồn di sản. Quảng Ninh sở hữu những lợi thế khó có địa phương nào có được khi vừa có không gian phát triển công nghiệp, cảng biển, logistics, vừa sở hữu hệ thống di sản thiên nhiên và văn hóa có giá trị quốc tế.

Vịnh Hạ Long, Yên Tử cùng hàng loạt không gian văn hóa, sinh thái khác là những tài sản đặc biệt trong chiến lược phát triển dài hạn.
Các đại biểu cho rằng quá trình mở rộng công nghiệp và đô thị phải đi cùng kiểm soát nghiêm nước thải, rác thải và các nguồn gây ô nhiễm, đặc biệt tại những khu vực giáp không gian di sản.
Nếu thiếu cơ chế quản lý chặt chẽ, áp lực từ cảng biển, công nghiệp, du lịch và dân cư có thể ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng môi trường và cảnh quan.
Do đó, quy hoạch đô thị cần đi trước một bước, phân định rõ khu vực phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, sinh thái và bảo tồn.
Giá trị văn hóa, lịch sử cũng được đề nghị chuyển hóa thành nguồn lực nội sinh, thay vì chỉ được bảo tồn theo hướng tách biệt với hoạt động kinh tế.
Du lịch di sản, văn hóa và trải nghiệm có thể trở thành một trong những hướng để Quảng Ninh tăng giá trị từ các tài nguyên sẵn có mà không gây áp lực quá lớn lên môi trường.
Kinh tế biển tiếp tục được xem là một trong những dư địa lớn nhất.
Quảng Ninh có hơn 250 km bờ biển, diện tích mặt biển trên 6.000 km² và hơn 2.000 đảo lớn nhỏ.
Các không gian như Hạ Long, Bái Tử Long, Cô Tô, Quan Lạn, Minh Châu, Trà Cổ tạo nền tảng để phát triển du lịch biển, hàng hải, logistics, thủy sản bền vững, năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.
Để khai thác hiệu quả, nhiều ý kiến cho rằng mô hình chính quyền đô thị mới cần có năng lực quản lý tổng hợp không gian biển dựa trên dữ liệu số.
Việc quản lý đất liền, mặt biển, giao thông, cảng, du lịch và môi trường cần được kết nối trong một hệ thống thống nhất, hạn chế tình trạng mỗi ngành quản lý một phần riêng biệt.
Hướng tới cực tăng trưởng có sức lan tỏa lớn hơn
Ngoài các yêu cầu về dân sinh và di sản, quá trình thành lập Thành phố Quảng Ninh cũng đặt ra bài toán nâng tầm liên kết vùng.
Quảng Ninh hiện giữ vị trí quan trọng trong tam giác Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đồng thời là cửa ngõ giao thương với Trung Quốc và khu vực Đông Bắc Á.
Trong giai đoạn tới, các đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số, nghiên cứu kết nối đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh và phát triển cửa khẩu thông minh Móng Cái.
Nếu các kết nối này được triển khai đồng bộ, Quảng Ninh có thể tăng vai trò trung chuyển hàng hóa, khách du lịch và dòng vốn đầu tư trong khu vực phía Bắc.
Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng cần trở thành những động lực tăng trưởng mới, đi cùng chính sách thu hút nhân tài và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Điều này đặc biệt quan trọng khi địa phương định hướng phát triển đồng thời kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế biển.
Một mô hình quản trị mới vì vậy phải đủ năng lực quản lý không gian phát triển rộng lớn, từ đô thị, công nghiệp, biển đảo đến miền núi và biên giới.
Chính quyền đô thị cần vận hành theo hướng minh bạch, dựa trên dữ liệu, có khả năng điều phối nguồn lực giữa các khu vực và phản ứng nhanh với những vấn đề phát sinh.
Việc thành lập Thành phố Quảng Ninh vì thế không chỉ thay đổi tên gọi hay cấp quản lý hành chính. Đây còn là bước tái cấu trúc toàn diện về không gian phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực.
Trong quá trình đó, thước đo cuối cùng không chỉ nằm ở tốc độ tăng trưởng hay quy mô ngân sách, mà còn ở khả năng giữ được di sản, nâng chất lượng sống và bảo đảm người dân ở mọi khu vực đều được hưởng lợi từ bước chuyển đô thị mới.
Ý kiến bạn đọc (0)