Ba trường hợp hộ kinh doanh được xử lý số thuế
Theo Điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP, việc xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được thực hiện trong một số trường hợp cụ thể.

Thứ nhất, trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã được tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 68/2026/NĐ-CP hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện khấu trừ và nộp thuế thay số thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với các giao dịch phát sinh trong năm, nhưng doanh thu thực tế phát sinh của cả năm từ 500 triệu đồng trở xuống.
Trong trường hợp này, số thuế nộp thừa được thực hiện thủ tục bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Thứ hai, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động kinh doanh, nhưng doanh thu thực tế phát sinh trong năm từ 500 triệu đồng trở xuống cũng được xử lý số thuế nộp thừa theo hình thức bù trừ, hoàn trả hoặc hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách.
Thứ ba, trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp hoặc được tổ chức, cá nhân khấu trừ, nộp thay lớn hơn số tiền thực tế phải nộp thì phần nộp thừa cũng được xử lý theo các hình thức nêu trên.
Hồ sơ đề nghị xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; thẩm quyền, trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết cũng như trình tự, thủ tục được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Về nơi nộp hồ sơ hoàn thuế, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện tại cơ quan thuế nơi nộp hồ sơ khai thuế.
Trường hợp chỉ có hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số và đã được chủ quản nền tảng thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay; hoặc chỉ có hoạt động kinh doanh khác đã được tổ chức khác khấu trừ, khai thay, nộp thuế thay, cơ quan tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hoàn thuế là cơ quan thuế quản lý nơi chủ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh cư trú.
Chậm cung cấp thông tin tài khoản có thể bị xử phạt
Bên cạnh quy định về xử lý khoản nộp thừa, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh cũng cần lưu ý nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản theo quy định.
Theo Điều 19 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định 310/2025/NĐ-CP, hành vi cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, tài khoản của người nộp thuế quá thời hạn quy định từ 5 ngày trở lên bị phạt tiền từ 2 triệu đến 6 triệu đồng.
Trường hợp cung cấp không chính xác thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế, mức phạt từ 6 triệu đến 10 triệu đồng.
Đối với hành vi không cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản của người nộp thuế tại tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu của cơ quan thuế, mức phạt từ 10 triệu đến 16 triệu đồng.
Ngoài hình thức phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin theo yêu cầu. Các mức phạt nêu trên là mức áp dụng đối với tổ chức.
Theo khoản 4 Điều 7 Nghị định 125/2020/NĐ-CP, đối với người nộp thuế là hộ gia đình, hộ kinh doanh, mức phạt được áp dụng như đối với cá nhân. Theo đó, mức phạt tương ứng bằng một nửa mức áp dụng đối với tổ chức.
Như vậy, đối với hộ kinh doanh, mức xử phạt tương ứng có thể từ 1-3 triệu đồng đối với hành vi cung cấp thông tin chậm từ 5 ngày trở lên; từ 3-5 triệu đồng nếu cung cấp thông tin tài khoản không chính xác; và từ 5-8 triệu đồng nếu không cung cấp thông tin theo quy định hoặc yêu cầu của cơ quan thuế.
Ý kiến bạn đọc (0)