Tại Hội thảo “Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước: Từ sắp xếp nguồn lực đến dẫn dắt tăng trưởng” diễn ra ngày 21/7, ông Hoàng Văn Thu - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) cho rằng, thị trường chứng khoán vừa là bệ đỡ, vừa là thước đo đối với quá trình cổ phần hóa, thoái vốn tại doanh nghiệp nhà nước.
Theo ông Thu, cổ phần hóa và thoái vốn không nhằm thu hẹp khu vực kinh tế nhà nước, mà là phương thức giải phóng, phân bổ lại nguồn lực, qua đó đưa vốn nhà nước tập trung vào những ngành, lĩnh vực cốt lõi.

Trong quá trình này, thị trường chứng khoán hỗ trợ cổ phần hóa trên ba phương diện.
Trước hết, hoạt động đấu giá công khai trên thị trường tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các nhà đầu tư, hỗ trợ quá trình xác định giá trị doanh nghiệp minh bạch hơn và hạn chế nguy cơ trục lợi trong chuyển giao vốn nhà nước.
Bên cạnh đó, việc trở thành công ty đại chúng và tham gia thị trường chứng khoán đặt doanh nghiệp trước yêu cầu cao hơn về công bố thông tin, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và trách nhiệm với cổ đông. Áp lực từ thị trường vì thế có thể thúc đẩy doanh nghiệp sau cổ phần hóa thay đổi mô hình quản trị theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp hơn.
Ở phương diện thứ ba, thị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp mở rộng cơ cấu sở hữu, kết hợp vốn nhà nước với các nguồn vốn tư nhân, qua đó tối ưu cấu trúc tài chính và giảm mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Ở chiều ngược lại, quá trình cổ phần hóa và thoái vốn cũng bổ sung nguồn hàng cho thị trường chứng khoán. Theo thống kê được lãnh đạo UBCKNN công bố, khoảng 780 doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đã đưa cổ phiếu lên giao dịch trên thị trường. Đây là nhóm doanh nghiệp giữ vai trò đáng kể trong việc gia tăng quy mô và chất lượng hàng hóa cho thị trường.
Sau gần 30 năm phát triển, vốn hóa thị trường cổ phiếu Việt Nam đã đạt khoảng 407 tỷ USD, tương đương 77,6% GDP. Tổng mức huy động vốn qua thị trường trong năm 2025 đạt khoảng 1,12 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, quá trình đưa doanh nghiệp sau cổ phần hóa lên thị trường vẫn còn một số điểm nghẽn, trong đó đáng chú ý là tình trạng cơ cấu cổ đông cô đặc tại nhiều doanh nghiệp quy mô lớn.
Theo lãnh đạo UBCKNN, điều kiện về cơ cấu cổ đông không phải quy định mới mà đã được kế thừa qua nhiều giai đoạn của pháp luật chứng khoán. Tuy nhiên, yêu cầu này đang được thực thi chặt chẽ hơn trong bối cảnh Việt Nam nâng cao chất lượng hàng hóa và đáp ứng các tiêu chí nâng hạng thị trường chứng khoán.
Theo quy định chuyển tiếp được ông Thu đề cập, đến ngày 31/12/2026, doanh nghiệp niêm yết phải bảo đảm tối thiểu 10% số cổ phần có quyền biểu quyết được nắm giữ bởi ít nhất 100 cổ đông không phải cổ đông lớn.
Thống kê trong hơn 780 doanh nghiệp có nguồn gốc cổ phần hóa cho thấy, hiện còn 67 đơn vị chưa đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông. Trong đó có 21 doanh nghiệp cổ phần hóa và 46 doanh nghiệp cấp hai, thường được gọi là doanh nghiệp F2.
Theo thông tin tại hội thảo, 21 doanh nghiệp cổ phần hóa được phép tiếp tục duy trì niêm yết trong thời gian thực hiện phương án tái cơ cấu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Luật số 68. Trong khi đó, 46 doanh nghiệp F2 phải chủ động hoàn thiện cơ cấu cổ đông nếu muốn tiếp tục duy trì niêm yết.
Khoảng thời gian còn lại đến thời hạn chuyển tiếp không dài, trong khi việc điều chỉnh cơ cấu sở hữu tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thường liên quan đến nhiều cấp có thẩm quyền và cần thời gian chuẩn bị phương án.
Để đáp ứng yêu cầu, các doanh nghiệp có thể xây dựng phương án bán bớt phần vốn nhà nước tại những lĩnh vực không cần duy trì tỷ lệ sở hữu cao. Một phương án khác là phát hành thêm cổ phiếu nhưng Nhà nước không thực hiện quyền mua, qua đó làm giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước và tăng tỷ lệ cổ phiếu do các nhà đầu tư khác nắm giữ.
Doanh nghiệp cũng có thể xem xét phát hành riêng lẻ hoặc phát hành cổ phiếu cho người lao động, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật. Các giải pháp này không chỉ nhằm đáp ứng điều kiện về cơ cấu cổ đông, mà còn có thể làm tăng lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng, cải thiện thanh khoản và mở rộng khả năng tiếp cận các dòng vốn mới.
Đặc biệt, việc xây dựng cơ cấu sở hữu đa dạng hơn có thể mở rộng cơ hội thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Theo lãnh đạo UBCKNN, nhiều doanh nghiệp Việt Nam có quy mô lớn, vốn hóa hàng tỷ USD đang nhận được sự quan tâm của khối ngoại, nhưng cơ cấu cổ đông quá cô đặc có thể hạn chế tính thanh khoản và khả năng tham gia của các nhà đầu tư mới.
Do đó, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn tới cần được thực hiện đồng thời với quá trình cơ cấu lại cổ đông. Việc giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại những lĩnh vực không cốt lõi không chỉ tạo thêm dư địa cho nhà đầu tư, mà còn giúp tăng tính đại chúng và cải thiện khả năng định giá doanh nghiệp trên thị trường.
Lãnh đạo UBCKNN cũng đề nghị thực hiện nghiêm việc gắn cổ phần hóa với niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán. Sau khi hoàn tất cổ phần hóa, doanh nghiệp cần được đưa lên thị trường theo thời hạn quy định, tránh tình trạng đã chuyển đổi mô hình sở hữu nhưng chậm niêm yết, khiến cổ phiếu thiếu thanh khoản và doanh nghiệp chưa chịu đầy đủ áp lực minh bạch từ thị trường.
Với thị trường chứng khoán, việc bổ sung các doanh nghiệp có quy mô lớn, quản trị tốt và cơ cấu cổ đông phù hợp sẽ góp phần nâng chất lượng hàng hóa, mở rộng lựa chọn cho nhà đầu tư và hỗ trợ mục tiêu nâng hạng.
Còn với doanh nghiệp sau cổ phần hóa, thị trường không chỉ là nơi Nhà nước thực hiện bán vốn. Đây còn là kênh huy động vốn dài hạn, là cơ chế giám sát và cũng là phép thử đối với chất lượng quản trị, mức độ minh bạch và hiệu quả sử dụng nguồn lực sau tái cơ cấu.
Ý kiến bạn đọc (0)