Dứa mật trên đất cát và cách “lấy ngắn nuôi dài” của người nông dân
Tại khu vực ven biển Lâm Đồng, dứa mật đang trở thành một trong những cây trồng cho năng suất và chất lượng khá nổi bật. Trên những vùng đất cát vốn không dễ canh tác, loại cây này lại cho thấy khả năng thích nghi tốt nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật.

Tại xã Hàm Kiện, theo đánh giá từ UBND, việc trồng dứa trên đất cát ven biển bước đầu được xem là mô hình thành công. Địa phương đang hướng đến xây dựng vùng nguyên liệu dứa an toàn, gắn với truy xuất nguồn gốc, ứng dụng công nghệ cao và khuyến khích chế biến sâu. Đây là hướng đi cần thiết để cây dứa không chỉ dừng ở bán tươi, mà có thêm dư địa nâng giá trị.
Trước đây, nhiều hộ nông dân ở khu vực này chủ yếu trồng thanh long. Tuy nhiên, khi năng suất và hiệu quả giảm, một số hộ đã chuyển sang dứa mật. Cách chuyển đổi này không đơn giản là thay cây trồng, mà là tính lại khả năng sinh lời trên vùng đất cát bạc màu.
Để cây dứa phát triển ổn định, người trồng phải lên luống, phủ bạt và kiểm soát độ ẩm. Một cách làm khá linh hoạt là trồng xen dưa hấu, nhất là giống dưa ruột vàng, trong giai đoạn chờ dứa lớn. Cây dứa cần khoảng 12 tháng từ lúc xuống giống đến thu hoạch, trong khi dưa hấu chỉ sau khoảng 3 tháng đã cho trái.
Với năng suất dưa trung bình trên 10 tấn/ha, giá thương lái thu mua tận ruộng hiện khoảng 7.000 - 10.000 đồng/kg, nguồn thu ngắn ngày này giúp người trồng có thêm dòng tiền để bù chi phí chăm sóc dứa. Đây là cách “lấy ngắn nuôi dài” phù hợp với các hộ chưa thể chờ một năm mới có thu nhập.
Sau vụ dứa đầu tiên, việc tận dụng chồi để khai thác vụ tiếp theo giúp giảm khoảng 60% tổng chi phí sản xuất. Giá dứa tươi hiện dao động từ 18.000 - 25.000 đồng/kg, phần lớn sản lượng được bán tươi, đồng thời cung ứng nguyên liệu cho nhà máy và thị trường trong nước. Sau khi trừ chi phí, lợi nhuận của người trồng có thể đạt khoảng 40%.
Cá chình, ốc bươu đen mở thêm lựa chọn trên vùng nước phù hợp
Không chỉ cây dứa, một số mô hình thủy sản tại Lâm Đồng cũng đang tạo điểm nhấn mới. Tại Đam Rông, mô hình nuôi cá chình bước đầu mang lại hiệu quả tích cực nhờ phù hợp với điều kiện nguồn nước địa phương.
Một hộ nông dân đã phát triển trang trại cá chình với quy mô hơn 6.000 con. Đây là mô hình đòi hỏi sự kiên trì, bởi thời gian nuôi kéo dài khoảng 2,5 - 3 năm tùy kích cỡ con giống. Cá giống được nhập từ Khánh Hòa; khi đưa về môi trường mới, đàn cá cần thời gian thích nghi do khác biệt về nguồn nước và khí hậu.

Trong quá trình nuôi, khâu quản lý nước và phòng bệnh giữ vai trò quyết định. Gia đình thường xuyên vệ sinh bể, tắm muối định kỳ, kiểm tra chất lượng nước và theo dõi sức khỏe đàn cá để kịp thời xử lý nấm bệnh. Nếu làm đúng kỹ thuật, cá chình có giá trị kinh tế cao hơn nhiều vật nuôi phổ biến.
Hiện cá chình đen có giá khoảng 450.000 đồng/kg, còn cá chình bông có thể đạt khoảng 600.000 đồng/kg. Tỷ suất lợi nhuận của mô hình có thể lên đến 50%, nhưng đi kèm yêu cầu vốn đầu tư, thời gian chăm sóc dài và kỹ thuật quản lý chặt chẽ.
Theo lãnh đạo xã Đam Rông 2, kết quả ban đầu cho thấy mô hình cá chình phù hợp với điều kiện nguồn nước tại địa phương. Thời gian tới, xã tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả để có cơ sở xem xét nhân rộng ở những khu vực đủ điều kiện.
Tại xã Cát Tiên 3, ốc bươu đen lại là mô hình gần gũi hơn với nhiều nông dân. Đây là loài bản địa, dễ thích nghi, kỹ thuật nuôi không quá phức tạp. Người dân chỉ cần mua giống thả xuống ao, sau khoảng nửa năm là có thể thu hoạch.
Ưu thế của ốc bươu đen nằm ở chi phí thức ăn thấp. Nguồn thức ăn chủ yếu là cây, lá và trái cây quanh vườn, không đòi hỏi khẩu phần phức tạp. Nhờ đó, mô hình phù hợp với các hộ có ao vườn sẵn có, muốn tận dụng phụ phẩm và lao động gia đình để tạo thêm thu nhập.
Hiện ốc loại to tại Cát Tiên 3 được bán với giá khoảng 70.000 đồng/kg. Do nhu cầu thị trường tốt, nhiều hộ thu hoạch đến đâu bán hết đến đó. Đây là điểm quan trọng, bởi với sản xuất nhỏ lẻ, đầu ra ổn định giúp người nuôi mạnh dạn duy trì và mở rộng quy mô.
Từ dứa mật trên đất cát, cá chình ở Đam Rông đến ốc bươu đen tại Cát Tiên 3, có thể thấy các mô hình mới ở Lâm Đồng đều xuất phát từ việc hiểu điều kiện tự nhiên của từng vùng. Khi chọn đúng cây trồng, vật nuôi, biết kết hợp kỹ thuật và tính toán thị trường, người dân có thêm cơ hội tạo sinh kế bền vững hơn trên chính lợi thế địa phương.
Ý kiến bạn đọc (0)