Lâm Đồng thu hút các dự án chế biến
Khu vực các xã, phường phía Tây Lâm Đồng hiện có tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp hơn 378.000 ha, chiếm 58% diện tích tự nhiên. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương thu hút các dự án nông nghiệp quy mô lớn, nhất là trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp, cây dược liệu, chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao và chế biến nông sản.

Theo định hướng hiện nay, Lâm Đồng ưu tiên thu hút một số dự án như phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, trồng cây dược liệu và chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao tại xã Quảng Phú; Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đắk Nông tại phường Đông Gia Nghĩa.
Ông Trần Văn Diêu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng, cho biết các dự án này đều căn cứ theo Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lâm Đồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2786/QĐ-UBND ngày 6/6/2026. Nguồn gốc, hiện trạng đất đai rõ ràng là điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư triển khai trên thực tế.
Ở xã Cư Jút, địa phương đang thu hút các dự án chế biến, sản xuất thức ăn chăn nuôi với công suất ước khoảng 150.000 - 300.000 tấn/năm. Quy mô đất dự kiến khoảng 8 ha, vốn đầu tư nhà máy từ 200 - 600 tỷ đồng. Nếu được triển khai, các dự án này có thể góp phần chủ động nguồn cung thức ăn, giảm chi phí sản xuất và nâng năng lực cạnh tranh cho ngành chăn nuôi.
Cư Jút cũng có lợi thế về hạ tầng giao thông, thuận lợi kết nối với các vùng chăn nuôi tập trung tại những xã lân cận như Đắk Wil, Nam Dong. Với người sản xuất, sự xuất hiện của nhà máy chế biến hoặc sản xuất đầu vào gần vùng nguyên liệu có ý nghĩa thiết thực, bởi chi phí vận chuyển, chi phí thức ăn và khâu tiêu thụ đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chăn nuôi.
Tại xã Nhân Cơ, tỉnh đang kêu gọi đầu tư dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Địa phương kỳ vọng thu hút được các nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, gắn với những ngành hàng đặc trưng như cà phê, hồ tiêu, cây ăn trái.
Hướng đi này không chỉ nhằm mở rộng sản xuất, mà còn đặt mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn, kết hợp cây dược liệu, cây lâu năm và chăn nuôi công nghệ cao. Khi đất đai được khai thác theo chuỗi thay vì sản xuất rời rạc, sinh kế của người dân địa phương cũng có thêm cơ hội ổn định hơn.
Mã số vùng trồng được rút ngắn, nông sản dễ vào thị trường hơn
Cùng với thu hút đầu tư, cải cách thủ tục trong lĩnh vực nông nghiệp đang tạo thêm kỳ vọng cho Lâm Đồng, nhất là với các vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu. Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được Chính phủ ban hành ngày 31/7 đang tạo hiệu ứng tích cực khi rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, đẩy mạnh số hóa và phân cấp mạnh hơn cho cấp xã.
Với người làm nông, hợp tác xã và doanh nghiệp, điểm đáng chú ý là thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn rõ rệt. Đối với trường hợp xuất khẩu sang thị trường có yêu cầu mã số, thời gian xử lý tối đa còn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Với trường hợp không đăng ký xuất khẩu sang thị trường yêu cầu mã số, thời gian giải quyết chỉ còn 3 ngày làm việc.
Ông Hà Ngọc Chiến, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng, cho biết trước đây thủ tục tiền kiểm đối với vùng trồng xuất khẩu mất khoảng 13 ngày, nay giảm xuống còn 10 ngày. Với các vùng trồng phục vụ thị trường không yêu cầu mã số, sau khi nộp hồ sơ, chỉ 3 ngày là được cấp mã số, sau đó cơ quan quản lý sẽ tổ chức hậu kiểm.
Việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ đến đúng thời điểm Lâm Đồng đang tăng tốc mở rộng vùng nguyên liệu xuất khẩu. Đến nay, toàn tỉnh đã được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt 961 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 39.360 ha. Trong đó có 571 mã số thanh long, diện tích 25.213,82 ha, chiếm khoảng 97,6% diện tích canh tác thanh long; 346 mã số sầu riêng với 13.297 ha, tương đương khoảng 59,5% diện tích kinh doanh sầu riêng.
Với các hộ sản xuất, mã số vùng trồng không chỉ là thủ tục hành chính. Đây là “tấm vé” để nông sản tham gia thị trường bài bản hơn, nhất là với các thị trường có yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Khi vùng trồng được cấp mã số, quá trình sản xuất buộc phải gắn với nhật ký canh tác, tiêu chuẩn chất lượng, quản lý vật tư đầu vào và kiểm soát dư lượng.
Từ phía doanh nghiệp, việc số hóa toàn bộ quy trình cấp mã số được kỳ vọng tạo bước chuyển trong quản trị chuỗi nông sản. Khi dữ liệu được cập nhật tập trung, công khai, doanh nghiệp có thể tra cứu nhanh tình trạng hoạt động của mã số, giảm rủi ro trong giao dịch và nâng uy tín với đối tác nhập khẩu.
Ý kiến bạn đọc (0)