Xuất khẩu dệt may duy trì tăng trưởng dương
Xuất khẩu dệt may Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trong 7 tháng đầu năm 2026 dù môi trường thương mại quốc tế còn nhiều biến động và các thị trường lớn ngày càng siết chặt yêu cầu kỹ thuật.
Theo số liệu được công bố, riêng tháng 7/2026, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt khoảng 4,672 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2025.

Kết quả tích cực trong tháng 7 đã đưa tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trong 7 tháng lên 27,02 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước.
Mức tăng này cho thấy nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường quốc tế đang dần cải thiện, trong khi doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng chủ động hơn trong việc tìm kiếm đơn hàng, đa dạng hóa thị trường và điều chỉnh cơ cấu sản phẩm.
Xét theo từng nhóm hàng, may mặc vẫn giữ vai trò chủ lực.
Trong tháng 7, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc ước đạt 3,738 tỷ USD, tăng 8,9% so với tháng 6 và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lũy kế 7 tháng, xuất khẩu may mặc đạt 21,127 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Mức tăng tương đối khiêm tốn ở nhóm hàng chủ lực phản ánh nhu cầu tại các thị trường truyền thống như Mỹ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản dù đã phục hồi nhưng vẫn chưa thực sự mạnh. Người tiêu dùng tiếp tục thận trọng hơn với các mặt hàng không thiết yếu, khiến doanh nghiệp phải chấp nhận các đơn hàng có quy mô nhỏ hơn, thời gian giao hàng ngắn hơn và yêu cầu linh hoạt cao hơn.
Trong bối cảnh đó, khả năng duy trì tăng trưởng dương của toàn ngành được xem là kết quả đáng chú ý, đặc biệt khi cạnh tranh về giá giữa các quốc gia xuất khẩu dệt may ngày càng gay gắt.
Xơ sợi, vải và phụ liệu trở thành điểm sáng
Nếu hàng may mặc tăng trưởng chậm, nhóm sản phẩm thượng nguồn và nguyên phụ liệu lại ghi nhận mức tăng mạnh hơn đáng kể.
Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu xơ sợi ước đạt 2,73 tỷ USD, tăng 11,34% so với cùng kỳ năm trước.
Nhóm phụ liệu dệt may mang về khoảng 929 triệu USD, tăng 11,18%. Xuất khẩu vải đạt 1,763 tỷ USD, tăng 9,57%, trong khi vải không dệt đạt 471 triệu USD, tăng 6,56%.
Đây được xem là một trong những tín hiệu tích cực nhất của ngành dệt may trong năm nay.
Việc các nhóm xơ sợi, vải và phụ liệu tăng trưởng nhanh hơn hàng may mặc cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng, thay vì chỉ tập trung vào công đoạn cắt may có giá trị gia tăng thấp.
Xu hướng này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm dần sự phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu.
Ở chiều nhập khẩu, tổng kim ngạch nhóm hàng dệt may trong tháng 7 đạt khoảng 2,231 tỷ USD, giảm 6% so với tháng trước nhưng vẫn tăng 8% so với cùng kỳ năm 2025.
Lũy kế 7 tháng, nhập khẩu dệt may đạt 15,255 tỷ USD, tăng 3,27%. Trong đó, nhập khẩu vải đạt 8,936 tỷ USD, tăng 2,08%; phụ liệu dệt may đạt 2,605 tỷ USD, tăng 3,6%; nhập khẩu bông đạt 1,885 tỷ USD, tăng 1,02%.
Các số liệu cho thấy ngành dệt may vẫn cần nhập khẩu lượng lớn nguyên liệu phục vụ sản xuất, đặc biệt là vải. Tuy nhiên, tốc độ tăng nhanh của xuất khẩu xơ sợi, vải và phụ liệu cho thấy năng lực cung ứng trong nước đang từng bước được cải thiện.
Đây là yếu tố quan trọng khi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới ngày càng yêu cầu chặt chẽ về quy tắc xuất xứ.

Chuyển đổi xanh trở thành điều kiện để giữ đơn hàng
Dù kim ngạch tiếp tục tăng, áp lực lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp dệt may vẫn khá lớn.
Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu cho biết kết quả sản xuất, kinh doanh 7 tháng nhìn chung tích cực, nhưng biên lợi nhuận của cả ngành sợi và may đang có xu hướng thu hẹp.
Nguyên nhân đến từ biến động giá nguyên liệu, giá bán, cơ cấu đơn hàng, chi phí đầu vào, logistics và tỷ giá.
Trong những tháng cuối năm, các doanh nghiệp được yêu cầu tiếp tục bám sát thị trường, chủ động xây dựng nhiều kịch bản về đơn hàng, nguyên liệu và chi phí, đồng thời kiểm soát chặt dòng tiền, công nợ, tồn kho và vốn lưu động.
Bài toán quan trọng không chỉ nằm ở việc có đơn hàng mà còn ở khả năng duy trì lợi nhuận.
Ông Trần Văn Quy, Tổng Giám đốc Công ty Dệt may Trung Quy, cho biết đơn hàng của doanh nghiệp hiện đã được lấp đầy đến hết tháng 10. Theo ông, nếu kiểm soát tốt giá thành và bảo đảm chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp vẫn có khả năng thích ứng với thị trường.
Trong khi đó, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), đánh giá mức tăng trưởng dương của ngành cùng sự cải thiện tỷ lệ giá trị gia tăng phản ánh quá trình tái cơ cấu đang diễn ra rõ nét.
Tuy nhiên, thách thức lớn hơn trong giai đoạn tới không chỉ đến từ giá cả hay đơn hàng mà còn nằm ở các tiêu chuẩn phát triển bền vững.
Các thị trường nhập khẩu lớn ngày càng siết yêu cầu về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu, phát thải carbon, sử dụng năng lượng, trách nhiệm xã hội và mô hình sản xuất tuần hoàn.
Đặc biệt tại châu Âu, những tiêu chuẩn liên quan đến dệt may xanh và kinh tế tuần hoàn đang trở thành điều kiện ngày càng quan trọng để doanh nghiệp duy trì khả năng tiếp cận thị trường.
Điều đó buộc các nhà sản xuất phải đầu tư nhiều hơn vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, sử dụng vật liệu tái chế và giảm phát thải trong toàn bộ quá trình sản xuất.
Các sản phẩm sử dụng xơ sợi tái chế, nguyên liệu thân thiện với môi trường hoặc có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng đang được kỳ vọng trở thành nhóm hàng có nhiều dư địa tăng trưởng.
Bên cạnh chuyển đổi xanh, doanh nghiệp cũng cần tiếp tục mở rộng thị trường ngách, tận dụng ưu đãi từ các FTA và nâng tỷ lệ nội địa hóa nguyên phụ liệu.
Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng kiến nghị hoàn thiện quy hoạch các khu công nghiệp dệt may tập trung có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn. Nếu nút thắt ở khâu dệt, nhuộm được giải quyết, ngành có thể giảm phụ thuộc vào nguồn vải nhập khẩu và đáp ứng tốt hơn quy tắc xuất xứ tại các thị trường lớn.
Với kim ngạch xuất khẩu dệt may đã vượt 27 tỷ USD sau 7 tháng, ngành vẫn đang duy trì được nền tảng tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, trong giai đoạn cạnh tranh mới, khả năng giữ đơn hàng sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào mức độ xanh hóa sản xuất, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Ý kiến bạn đọc (0)