Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số không chỉ đòi hỏi gia tăng quy mô đầu tư, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng thể chế, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện chính sách.
Trong bối cảnh đó, thông điệp được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7 mang ý nghĩa lớn hơn việc xử lý những khó khăn riêng lẻ của từng doanh nghiệp hay dự án. Trọng tâm điều hành đang chuyển mạnh từ nhận diện, tháo gỡ điểm nghẽn sang hoàn thiện nền tảng kiến tạo phát triển; từ đối thoại sang hành động quyết liệt; từ cam kết sang kết quả thực chất, cụ thể, có địa chỉ và thời hạn.
Đây là bước chuyển cần thiết khi các động lực tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng bộc lộ giới hạn. Gia tăng vốn đầu tư, mở rộng sử dụng đất đai hay bổ sung lao động vẫn quan trọng, nhưng chưa đủ để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Nền kinh tế cần đồng thời nâng năng suất, cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực và rút ngắn khoảng cách từ chủ trương đến kết quả thực tế.

Từ xử lý khó khăn đến chủ động kiến tạo phát triển
Trong điều hành kinh tế, tháo gỡ khó khăn là nhiệm vụ thường xuyên và cần thiết. Những vướng mắc về thủ tục, đất đai, vốn, thuế hay triển khai dự án nếu không được xử lý kịp thời có thể làm chậm dòng đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, xử lý từng vấn đề phát sinh chủ yếu mang tính phản ứng. Khi một điểm nghẽn được giải quyết nhưng nguyên nhân có tính hệ thống chưa được khắc phục, những trường hợp tương tự vẫn có thể tiếp tục xuất hiện ở doanh nghiệp, lĩnh vực hoặc địa phương khác.
Bởi vậy, yêu cầu “hoàn thiện nền tảng kiến tạo phát triển” đặt ra một tầng nhiệm vụ cao hơn. Chính sách không chỉ giải quyết phần việc trước mắt, mà phải tạo dựng môi trường đủ ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo, qua đó hạn chế phát sinh những rào cản mới và giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn.
Tinh thần này thể hiện rõ trong chỉ đạo rà soát đồng bộ các quy định liên quan đến đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, đấu thầu, thuế, hải quan và kiểm tra chuyên ngành. Đây đều là những lĩnh vực thường cùng xuất hiện trong quá trình chuẩn bị và triển khai một dự án.
Nếu mỗi khâu được vận hành theo một quy trình riêng, cách hiểu khác nhau hoặc thiếu đầu mối phối hợp xuyên suốt, thời gian chuẩn bị đầu tư sẽ kéo dài, chi phí cơ hội của doanh nghiệp tăng lên. Ngược lại, khi quy trình được thiết kế đồng bộ, trách nhiệm được phân định rõ và dữ liệu được liên thông, nguồn lực có thể đi vào sản xuất nhanh hơn.
Theo TS. Lê Thị Minh Phượng, Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thông điệp tại Hội nghị phản ánh bước chuyển từ mô hình quản lý sang quản trị phát triển.
“Nhà nước không làm thay thị trường mà tập trung kiến tạo thể chế, nâng cao chất lượng thực thi và tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển”, TS. Lê Thị Minh Phượng nhận định.
Trong cách tiếp cận này, vai trò của Nhà nước không giảm đi mà được nâng lên ở khả năng thiết kế luật chơi, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, đầu tư hạ tầng nền tảng và xử lý những vấn đề thị trường khó tự điều chỉnh.
Chính sách vì vậy cần tạo được sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý và không gian chủ động của doanh nghiệp. Nhà nước tập trung quản lý quy hoạch, tiêu chuẩn, điều kiện an toàn và kết quả đầu ra; doanh nghiệp được trao quyền chủ động hơn trong quyết định đầu tư, lựa chọn công nghệ, tổ chức sản xuất và quản trị hoạt động.
Sự chuyển đổi này không chỉ góp phần giảm chi phí tuân thủ, mà còn xác lập rõ hơn trách nhiệm của các chủ thể. Khi doanh nghiệp được mở rộng quyền quyết định, yêu cầu về minh bạch, chất lượng sản phẩm, hiệu quả đầu tư và tuân thủ pháp luật cũng phải được nâng lên tương ứng.

Không để khoảng trống giữa chính sách và thực thi
Một trong những yêu cầu quan trọng được Thủ tướng đặt ra là nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, đồng thời bảo đảm tính liên tục trong quá trình thực hiện.
Theo đó, các dự án luật có nghị định, thông tư hướng dẫn phải được chuẩn bị đồng thời và công bố công khai để người dân, doanh nghiệp tham gia góp ý. Điều khoản chuyển tiếp cũng phải được quy định đầy đủ, tránh tình trạng văn bản cũ hết hiệu lực nhưng hướng dẫn mới chưa được ban hành, khiến doanh nghiệp không xác định được căn cứ thực hiện.
Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp. Đối với doanh nghiệp, sự ổn định và khả năng dự báo của chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư, phương án tài chính và tiến độ triển khai dự án.
Một dự án có thể được chuẩn bị trong nhiều năm và vận hành trong hàng chục năm. Nếu quy định thay đổi đột ngột, thiếu lộ trình chuyển tiếp hoặc được giải thích khác nhau giữa các cơ quan, toàn bộ kế hoạch đầu tư có thể phải điều chỉnh. Chi phí khi đó không chỉ nằm ở việc bổ sung hồ sơ, mà còn gồm chi phí vốn, thời gian và cơ hội thị trường bị bỏ lỡ.
Bởi vậy, chất lượng chính sách cần được đánh giá cả ở thời điểm ban hành lẫn trong suốt quá trình tổ chức thực hiện. Một quy định đúng về mục tiêu nhưng khó áp dụng, không xác định rõ trách nhiệm hoặc thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan vẫn có thể tạo ra chi phí lớn cho nền kinh tế.
Thủ tướng cũng yêu cầu khi một vướng mắc đã được xử lý, kết quả phải được chia sẻ với các bộ, ngành và địa phương để áp dụng thống nhất đối với những trường hợp tương tự. Cách làm này có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tình trạng cùng một vấn đề nhưng doanh nghiệp phải tiếp tục xin ý kiến tại nhiều nơi khác nhau.
Thay vì mỗi kiến nghị được xem là một trường hợp riêng biệt, kết quả xử lý cần trở thành căn cứ chung, góp phần nâng cao tính nhất quán của chính sách trên phạm vi cả nước. Qua đó, một vướng mắc được tháo gỡ có thể tạo hiệu ứng rộng hơn, không chỉ đối với doanh nghiệp trực tiếp kiến nghị mà còn với cả nhóm doanh nghiệp có điều kiện tương tự.
Kết quả thực chất phải được doanh nghiệp cảm nhận
Thông điệp “từ đối thoại sang hành động, từ cam kết sang kết quả” cũng đặt ra yêu cầu thay đổi thước đo hiệu quả điều hành.
Trong thời gian dài, kết quả cải cách thường được phản ánh qua số lượng văn bản được sửa đổi, số thủ tục được công bố cắt giảm hoặc dịch vụ được đưa lên môi trường điện tử. Đây là những chỉ tiêu cần thiết, nhưng chưa phản ánh đầy đủ trải nghiệm thực tế của doanh nghiệp.

Một thủ tục được số hóa chưa chắc đã đơn giản hơn nếu quy trình cũ vẫn được giữ nguyên, doanh nghiệp vẫn phải khai báo nhiều lần hoặc tiếp tục nộp thêm hồ sơ giấy. Tương tự, một điều kiện kinh doanh được cắt giảm trên văn bản chưa chắc giúp tiết kiệm chi phí nếu cơ quan thực hiện phát sinh thêm yêu cầu ngoài quy định.
Bởi vậy, thước đo cần chuyển sang thời gian xử lý hồ sơ, số lần doanh nghiệp phải bổ sung giấy tờ, chi phí tuân thủ thực tế, tỷ lệ hồ sơ quá hạn và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Thủ tướng yêu cầu người đứng đầu các cơ quan phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm cá nhân nếu để hồ sơ quá hạn hoặc phát sinh thủ tục ngoài quy định. Đây là bước chuyển từ trách nhiệm chung của tổ chức sang trách nhiệm cụ thể trong quá trình thực thi.
Mỗi nhiệm vụ cũng phải xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn hoàn thành và kết quả đầu ra. Những nội dung thuộc thẩm quyền và đã đủ căn cứ pháp lý phải được xử lý ngay; những vấn đề cần sửa đổi cơ chế hoặc vượt thẩm quyền phải có phương án và lộ trình báo cáo.
Việc công khai phản hồi đối với kiến nghị của doanh nghiệp tiếp tục mở rộng cơ chế giám sát. Khi tiến độ và kết quả xử lý được công bố, doanh nghiệp có thể theo dõi kiến nghị đã đi đến đâu, trong khi cơ quan quản lý phải giải trình rõ hơn về trách nhiệm và kết quả cuối cùng.
Theo TS. Lê Thị Minh Phượng, yêu cầu chuyển từ cam kết sang kết quả có thể kiểm chứng đồng nghĩa với việc hiệu quả điều hành không còn được đánh giá chủ yếu qua số lượng chính sách ban hành, mà bằng những thay đổi doanh nghiệp thực sự cảm nhận được.
Đó là chi phí tuân thủ giảm, thủ tục hành chính được rút ngắn, khả năng tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và các nguồn lực phát triển được cải thiện. Đây cũng là cơ sở quan trọng để củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Khơi thông nguồn lực không chỉ là huy động thêm vốn
Trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhu cầu huy động thêm nguồn lực là rất lớn. Tuy nhiên, quy mô nguồn lực chỉ là một mặt của vấn đề. Yếu tố quyết định hơn nằm ở khả năng phân bổ vốn, đất đai, nhân lực và công nghệ tới những khu vực có thể tạo ra năng suất và giá trị gia tăng cao hơn.
Đối với nguồn vốn, định hướng của Thủ tướng không chỉ dừng ở mở rộng tín dụng ngân hàng, mà còn yêu cầu phát triển lành mạnh thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, ưu tiên hình thành kênh huy động trung và dài hạn trong nước.
Đây là yêu cầu mang tính cấu trúc. Nguồn vốn của hệ thống ngân hàng phần lớn có kỳ hạn ngắn, trong khi hạ tầng, năng lượng, công nghệ và các dự án sản xuất lớn cần thời gian đầu tư, vận hành và hoàn vốn dài hơn.
Nếu phần lớn nhu cầu vốn dài hạn tiếp tục dựa vào ngân hàng, áp lực kỳ hạn và thanh khoản sẽ gia tăng. Khi thị trường vốn phát triển đủ chiều sâu, doanh nghiệp có thêm công cụ huy động phù hợp với đặc điểm dự án, còn hệ thống ngân hàng có điều kiện phân bổ nguồn vốn cân bằng hơn.
Khơi thông vốn cũng bao gồm việc bảo đảm dòng tiền vận hành đúng hạn. Thủ tướng yêu cầu xử lý kịp thời việc hoàn thuế, thanh quyết toán vốn đầu tư công và các nghĩa vụ thanh toán của Nhà nước, không để doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn do sự chậm trễ của cơ quan quản lý.
Đối với doanh nghiệp, một khoản tiền bị chậm hoàn hoặc chậm thanh toán có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng trả lương, nhập nguyên liệu và thực hiện đơn hàng. Vì vậy, thời gian xử lý nghĩa vụ thanh toán của cơ quan nhà nước cũng là một phần quan trọng trong chất lượng môi trường kinh doanh.
Tương tự, khơi thông đất đai không đơn thuần là đẩy nhanh giao đất hoặc xác định giá đất. Điều quan trọng là tạo ra một quy trình thống nhất từ quy hoạch, lựa chọn nhà đầu tư, giải phóng mặt bằng, thực hiện nghĩa vụ tài chính đến xây dựng và đưa dự án vào vận hành.
Các dự án chậm triển khai, công trình ách tắc và đất đai chưa được khai thác hiệu quả cần được rà soát, phân loại và xử lý dứt điểm. Kết quả không chỉ dừng ở việc hoàn thiện hồ sơ pháp lý, mà phải đưa được nguồn lực trở lại hoạt động kinh tế.
Một dự án được khơi thông có thể kéo theo nhu cầu về nguyên vật liệu, xây dựng, logistics, lao động và dịch vụ, qua đó tạo tác động lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi của doanh nghiệp chủ đầu tư.

Tạo động lực tăng trưởng từ sự liên kết của ba khu vực doanh nghiệp
Một điểm quan trọng trong chỉ đạo của Thủ tướng là phát huy vai trò của từng khu vực doanh nghiệp, đồng thời tăng cường liên kết thực chất giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ba khu vực đang sở hữu những nguồn lực và lợi thế khác nhau. Doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, nắm giữ nhiều hạ tầng và hoạt động trong các ngành nền tảng. Doanh nghiệp tư nhân có tính linh hoạt, khả năng thích ứng và động lực đổi mới mạnh. Khu vực FDI mang theo vốn, công nghệ, kỹ năng quản trị và mạng lưới thị trường quốc tế.
Nếu ba khu vực phát triển tương đối tách biệt, hiệu quả lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước sẽ bị giới hạn. Ngược lại, khi được kết nối bằng dự án, hợp đồng, đơn hàng và hoạt động chuyển giao công nghệ, nguồn lực của mỗi khu vực có thể bổ trợ cho nhau.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng, doanh nghiệp nhà nước phải phát huy vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt; đi đầu trong đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển hạ tầng và tạo thị trường cho doanh nghiệp trong nước.
Vai trò dẫn dắt vì vậy không chỉ được thể hiện qua quy mô tài sản, doanh thu hay lợi nhuận, mà còn ở khả năng hình thành chuỗi cung ứng, mở cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhỏ, vừa tham gia các dự án lớn.
Đối với khu vực tư nhân, chính sách phải tạo điều kiện bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội đầu tư, đấu thầu và mua sắm công. Các tập đoàn tư nhân lớn được kỳ vọng trở thành hạt nhân đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn.
Với khu vực FDI, thu hút đầu tư phải chuyển từ số lượng sang chất lượng, gắn ưu đãi với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, tỷ lệ nội địa hóa và phát triển nhà cung ứng Việt Nam.
Mối liên kết giữa ba khu vực cần được đo bằng kết quả cụ thể, như tỷ lệ mua sắm trong nước, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi, giá trị hợp đồng cung ứng, tỷ lệ nội địa hóa và số dự án chuyển giao công nghệ.
TS. Lê Thị Minh Phượng cho rằng đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Kết luận số 18-KL/TW và các Nghị quyết số 68-NQ/TW, 79-NQ/TW và 10-NQ/TW, hướng tới phát huy đồng bộ vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo bà, điều quan trọng là tạo được sự liên kết, bổ trợ và cộng hưởng giữa các khu vực để hình thành những động lực tăng trưởng mới, thay vì để mỗi khu vực phát triển tương đối độc lập.
Chất lượng thực thi quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức lớn, bởi nền kinh tế không chỉ phải huy động thêm nguồn lực mà còn phải nâng hiệu quả sử dụng từng đơn vị vốn, đất đai và lao động.
Trong bối cảnh dư địa tăng trưởng theo chiều rộng thu hẹp, động lực cần chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng thể chế, năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và năng lực tổ chức thực hiện chính sách.
Một thể chế tốt có thể rút ngắn thời gian chuẩn bị dự án, giảm chi phí không cần thiết và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng. Tuy nhiên, chính sách chỉ thực sự tạo ra tác động khi được triển khai đồng bộ, nhất quán và gắn với trách nhiệm cụ thể.
“Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu chuyển từ cam kết sang kết quả thực thi có thể kiểm chứng là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư”, TS. Lê Thị Minh Phượng nhấn mạnh.
Điều đó cũng có nghĩa hiệu quả điều hành không thể chỉ được đánh giá qua số lượng chính sách được ban hành, mà phải thể hiện bằng những thay đổi cụ thể như thời gian xử lý thủ tục được rút ngắn, chi phí tuân thủ giảm và khả năng tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ cùng các nguồn lực phát triển được cải thiện.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư. Doanh nghiệp có thể chấp nhận những yêu cầu quản lý chặt chẽ nếu quy định rõ ràng, được áp dụng thống nhất và có thể dự báo.
Ngược lại, sự thiếu nhất quán, thời gian xử lý không xác định hoặc thay đổi chính sách thiếu lộ trình có thể khiến doanh nghiệp trì hoãn đầu tư, tăng dự phòng rủi ro và ưu tiên những kế hoạch ngắn hạn.
Niềm tin vì vậy không chỉ được hình thành từ các thông điệp đồng hành, mà phải được củng cố bằng trải nghiệm thực tế trong quá trình thực hiện thủ tục, tiếp cận nguồn lực và giải quyết kiến nghị.
Việc đưa nội dung xử lý kiến nghị doanh nghiệp vào phiên họp Chính phủ thường kỳ, công khai tiến độ và gắn nhiệm vụ với trách nhiệm người đứng đầu cho thấy trọng tâm điều hành đang được đẩy mạnh xuống khâu thực thi.
Từ “tháo gỡ khó khăn” đến “kiến tạo phát triển” là bước chuyển từ giải quyết từng vấn đề riêng lẻ sang xây dựng một hệ thống có khả năng chủ động tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh.
Khi chính sách được thiết kế đồng bộ, nguồn lực được phân bổ hiệu quả, trách nhiệm thực thi được xác định rõ và ba khu vực doanh nghiệp hình thành sức mạnh cộng hưởng, nền kinh tế sẽ có thêm dư địa nâng cao năng suất và sức cạnh tranh.
Đó là nền tảng để mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ dựa vào sự gia tăng đầu vào trong ngắn hạn, mà được củng cố bằng chất lượng thể chế, niềm tin thị trường và năng lực phát triển bền vững trong dài hạn.
Ý kiến bạn đọc (0)