Bốn vùng đều nằm trong dự thảo tăng lương tối thiểu
Bộ Nội vụ đã công bố dự thảo nghị định quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, dự kiến thay thế Nghị định số 293/2025/NĐ-CP.

Theo dự thảo, mức lương tối thiểu tháng tại cả 4 vùng đều được điều chỉnh tăng từ ngày 1/1/2027.
Cụ thể, vùng I được đề xuất tăng từ 5,31 triệu đồng lên 5,7 triệu đồng/tháng; vùng II tăng từ 4,73 triệu đồng lên 5,08 triệu đồng; vùng III tăng từ 4,14 triệu đồng lên 4,45 triệu đồng; vùng IV tăng từ 3,7 triệu đồng lên 4,04 triệu đồng/tháng.
Như vậy, mức tối thiểu tại vùng IV dự kiến tăng thêm 340.000 đồng/tháng, tương đương khoảng 9,2%. Đây là vùng có tỷ lệ điều chỉnh cao nhất trong 4 vùng theo phương án đang được lấy ý kiến.
Mức 4,04 triệu đồng/tháng sẽ là ngưỡng thấp nhất dùng để người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận, trả lương đối với công việc trong điều kiện lao động bình thường, nếu dự thảo được Chính phủ thông qua và có hiệu lực.
Tuy nhiên, việc mức tối thiểu vùng IV tăng 9,2% không đồng nghĩa mọi người lao động tại địa bàn này đều mặc nhiên được tăng lương đúng 9,2%.
Những người đang nhận thấp hơn mức sàn mới phải được điều chỉnh để bảo đảm không thấp hơn 4,04 triệu đồng/tháng. Với người đã nhận cao hơn mức này, việc tăng thêm bao nhiêu còn phụ thuộc vào hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế tiền lương và thỏa thuận tại doanh nghiệp.
Phương án điều chỉnh bình quân 7,8% đã được Hội đồng Tiền lương quốc gia thống nhất để trình Chính phủ xem xét. Do nghị định mới chưa được ban hành, các mức nêu trên hiện vẫn là đề xuất, chưa phải quy định chính thức áp dụng từ ngày 1/1/2027.
Những khoảng thời gian vẫn được tính hưởng lương
Bên cạnh mức lương tối thiểu, Điều 58 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định 10 khoảng thời gian được tính vào thời giờ làm việc hưởng lương.
Thứ nhất là thời gian nghỉ giữa giờ đối với trường hợp làm việc theo ca liên tục theo quy định.
Thứ hai là thời gian nghỉ giải lao căn cứ vào tính chất của công việc.
Thứ ba là thời gian nghỉ cần thiết trong quá trình lao động, đã được tính trong định mức lao động để đáp ứng nhu cầu sinh lý tự nhiên của người lao động.
Thứ tư là thời gian nghỉ của lao động nữ trong thời kỳ hành kinh, mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo quy định của Bộ luật Lao động.
Thứ năm là thời gian người lao động phải ngừng việc nhưng không do lỗi của mình.
Thứ sáu là thời gian hội họp, học tập hoặc tập huấn theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.
Thứ bảy là thời gian người học nghề, tập nghề trực tiếp làm việc hoặc tham gia lao động theo quy định.
Thứ tám là thời gian mà người lao động là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở sử dụng để thực hiện nhiệm vụ.
Thứ chín là thời gian khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp hoặc giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu được thực hiện theo sự bố trí hoặc yêu cầu của người sử dụng lao động.
Thứ mười là thời gian đăng ký, khám và kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân sự, nếu khoảng thời gian đó được hưởng nguyên lương theo pháp luật về nghĩa vụ quân sự.
Các khoảng thời gian trên được tính vào thời giờ làm việc hưởng lương nếu đáp ứng đúng điều kiện tương ứng. Đây không phải thời gian làm thêm giờ và không được dùng để tự động kéo dài thời giờ làm việc bình thường của người lao động.
Ý kiến bạn đọc (0)